Hsmath.net giới thiệu với các bạn bài viết của Thầy giáo Trần Nam Dũng giảng viên Trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên TP Hồ Chí Minh về kỳ Thi Học Sinh Giỏi Toàn Quốc 2009 với những nhận xét, đánh giá độc đáo .
Tải tài liệu tại đây(download)
Thi Học Sinh Giỏi Toàn Quốc 2009 Môn Toán(Đề thi - Đáp án )
Cần xử lý các viên chức trong ngành giáo dục sử dụng bằng giả
Ông Chu Biên, Trưởng Phòng Nội vụ huyện Kỳ Anh (Hà Tĩnh) cho biết: Tháng 6/2009, phòng đã phát hiện 3 viên chức ngành giáo dục sử dụng bằng giả, gồm các bà: Đường Thị Ngọc Hiền (Trường Tiểu học Kỳ Tiến), Nguyễn Thị Lưu (Trường THCS Phong Bắc) và Nguyễn Thị Tâm (Trường Tiểu học Kỳ Phong).
Tháng 4/2009, UBND huyện Kỳ Anh có Quyết định số 569/QĐ-UBND, ban hành Quy chế xét tuyển viên chức hành chính trường học năm học 2008-2009. Trong đợt xét tuyển này, huyện Kỳ Anh đã tiếp nhận 74 cán bộ cho ngành giáo dục; trong đó có 6 kế toán, 25 cán bộ thư viện, 32 cán bộ thiết bị và 11 y tế học đường. Sau khi xét tuyển, UBND huyện đã bố trí các cán bộ trúng tuyển về công tác tại các trường. Đến đầu tháng 6/2009, phòng Nội vụ huyện Kỳ Anh đã phát hiện ba trường hợp nêu trên sử dụng văn bằng giả. cụ thể: Đường Thị Ngọc Hiền, có “Bằng tốt nghiệp'' số D 0326841 do Trường Cao đẳng Sư phạm Nghệ An cấp ngày 12/9/2007, Nguyễn Thị Lưu có “Bằng tốt nghiệp” số A 0362820 do Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương cấp ngày 2/11/2006 và Nguyễn Thị Tâm có “Bằng tốt nghiệp'' số D 538839 do Trường Cao đẳng Văn thư lưu trữ Trung ương I cấp ngày 22/9/2005, đều là bằng giả. Để biết chính xác hơn, phòng Nội vụ huyện Kỳ Anh đã nhờ các trường Cao đẳng kiểm tra và các trường khẳng định không có các học sinh trên học tại trường.
Mặc dù việc phát hiện các viên chức gian lận trong việc sử dụng bằng giả để được xét tuyển và phân công công tác đã nhiều tháng nay nhưng các cơ quan chức năng huyện Kỳ Anh vẫn chưa xử lý dứt điểm. Huyện Kỳ Anh cần sớm xử lý các viên chức sử dụng bằng giả để làm trong sạch đội ngũ giảng dạy trong ngành giáo dục, tránh những dư luận không tốt ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy và học.( theo TTXVN)
Đề thi Học Sinh Giỏi Tỉnh Thanh Hóa - Môn Toán -2008/2009
Hsmath.net giới thiệ:Đề thi và đáp án Học Sinh Giỏi Tỉnh Thanh Hóa - Môn Toán -2008/2009
Tải tài liệu tại đây(download)
Một số điều nên và không nên trong giảng dạy toán (9)
Nên: Làm sao cho học sinh hiểu được bản chất các kiến thức
Không nên: Lạm dụng ngôn ngữ hình thức, và dạy một cách giáo điều
Nên: Cho các bài tập nhằm giúp học sinh nắm được bản chất của các lý thuyết đang học và luyện được các kỹ năng liên quan trực tiếp
Không nên: Cho nhiều bài “lạc đề”, ít liên quan trực tiếp đến lý thuyết đang học, đòi hỏi mẹo mực hoặc những lý thuyết chưa được học đến.
(theo Zung's website)
Một số điều nên và không nên trong giảng dạy toán (8)
Nên: Hướng tới chất lượng
Không nên: Chạy theo số lượng và hình thức
(Ở phần này tôi viết về triết lý giáo dục, hay mở rộng ra là các hoạt động nói chung, chứ không riêng cho giảng dạy toán)
Từ khi tôi là sinh viên, có được các anh chị học trên “truyền” cho điều này: Ai mà viết đến 10 bài báo khoa học, mà vẫn không được mấy người khác trích dẫn, thì coi như là thất bại trong khoa học. Điều “đáng sợ” không phải là không viết được bài báo khoa học để đăng, mà là viết nhiều bài “rởm rít”, tốn giấy mực. Tất nhiên, sinh viên khi mới tập nghiên cứu khoa học, thì khó có kết quả có giá trị lớn ngay, mà thường phải bắt đầu bằng một vài vấn đề nhỏ hơn, để làm quen. Nhưng nếu lúc nào cũng chỉ làm thứ dễ dàng và ít giá trị, không dám làm cái khó hơn, có giá trị lớn hơn, thì khó có thể thành công trong khoa học. Giá trị của các công trình khoa học (đăng trên các tạp chí quốc tế, chứ chưa nói đến tạp chí “vườn” của VN) có thể chênh nhau hàng trăm lần. Có viết hàng chục hay hàng trăm bài báo khoa học “làng nhàng” có khi vẫn không bằng là làm được một công trình “để đời”.
Không chỉ trong khoa học, mà trong hầu hết mọi lĩnh vực khác, chất lượng là cái đặc biệt quan trọng. Ví dụ như trong kinh tế, sự phát triển bền vững (sustainable development) chính là sự phát triển về chất. Chúng ta không thể tăng khối lượng của các sản phẩm hay dịch vụ lên “mỗi năm 5-7%” mãi được, vì tài nguyên thiên nhiên là hữu hạn, nhưng cái chúng ta có thể tăng lên, đó là chất lượng. Nếu chúng ta cứ phá rừng phá núi, hủy hoại môi trường để đạt con số % phát triển GDP, thì có nguy cơ biến đất nước thành bãi rác. Cái máy tính bỏ túi ngày nay “khỏe hơn” cả một “khối thép” máy tính nặng hàng chục tấn của thế kỷ trước, đó là phát triển về chất. Cùng là đồ ăn với lượng calor như nhau, nhưng chất lượng khác nhau thì giá trị có thể chênh nhau hàng chục lần. Ở VN, đồ ăn không đảm bảo vệ sinh và chứa nhiều chất độc nên giá trị thấp, tuy giá có thể rẻ nhưng tính tỷ lệ chất lượng chia cho giá có khi vẫn thấp. Trong văn học, thì một quyển truyện như “Hoàng Tử Nhỏ” (Le Petit Prince) đủ làm cho ông Saint-Exupery trở thành nhà văn của thế kỷ 20 được hàng trăm triệu người trên thế giới tìm đọc. Ở Việt Nam cũng có những tác phẩm văn học mà những thế kỷ sau người ta vẫn còn nhớ đến, trong khi có hàng nghìn, hàng vạn tác phẩm văn học khác nhanh chóng rơi vào lãng quên.
Trong giáo dục, chất lượng cũng là cái cực kỳ quan trọng. Ảnh hưởng của một người thầy là rất lớn: trực tiếp đến hàng trăm, hàng nghìn học trò, và gián tiếp có thể đến hàng triệu người. Giá trị của giáo dục khó qui đổi thành tiền (một người vô văn hóa, thì có đắp thêm 1 triệu USD vào thì vẫn vô văn hóa). Chất lượng người thày tốt lên thì làm cho chất lượng xã hội tốt lên, và cái sự thay đổi chất lượng đó không đo được bằng tiền. Nhưng có thể hình dung một cách thô thiển là, một người thày tốt đem lại lợi ích cho học trò thêm hàng nghìn hay thậm chí hàng chục nghìn USD (thể hiện qua việc học trò có được việc tốt hơn, làm ra nhiều tiền của hơn …) so với một người thầy không tốt bằng. Với hàng trăm hay hàng nghìn học trò “qua tay” trong cuộc đời, thì một người thầy tốt có thể đem lại lợi ích hàng trăm nghìn, hay thậm chí hàng triệu USD, nhiều hơn cho xã hội so với một người thầy kém hơn.
Muốn có chất lượng tốt, thì chất lượng phải được (xã hội) coi trọng đúng mức, và (người thầy) phải chú tâm tìm cách nâng cao chất lượng. Các giảng viên đại học ở các nước tiên tiến thường không phải dạy quá nhiều giờ (trung bình khoảng 6 tiếng một tuần), và cũng không phải lo “kiếm cơm thêm” ngoài công việc chính. Họ có thời giờ để tiếp cận thông tin khoa học mới, chuẩn bị bài giảng cho tử tế, suy nghĩ cải tiến cách dạy cho hay, … (đấy là đối với những người có ý thức trong việc dạy học). Ở Việt Nam, các giáo viên và giảng viên dạy quá nhiều giờ, ngoài giờ chính thức đã nhiều còn dạy thêm tràn lan, có người “bán cháo phổi” liên tục một ngày đến mười mấy tiết. Họ bù lại việc thừ lao cho từng giờ dạy thấp, bằng việc dạy rất nhiều giờ. Nhưng trong điều kiện như vậy, thì họ sẽ dạy “như cái máy”, ít suy nghĩ, ít nhiệt tình với học sinh, ít thời gian chuẩn bị, không có thời giờ cập nhật kiến thức, khó mà có chất lượng cao được.
Xu hướng của thời đại internet, là các giảng viên có chất lượng dạy học cao sẽ ngày càng trở nên có giá trị, trong khi những ai dạy dở sẽ ngày càng mất giá trị. Trong điều kiện “không có lựa chọn”, thì thày dạy hay dạy dở thế nào học sinh “vẫn phải học thầy”, nhưng khi có lựa chọn, học sinh sẽ chọn học thầy hay, không đến học thầy dở. Việc điểm danh để bắt học sinh đi học, theo tôi là một hình thức giữ kỷ luật thô thiển kém hiệu quả. Thay vào điểm danh, nếu dạy hay, dạy cái có ý nghĩa, thì không bắt học sinh cũng tự động “tranh nhau” đi học. Tôi đã từng chứng kiến trường hợp có 2 giáo sư dạy cùng 1 môn ở 2 giảng đường khác nhau – ví số học sinh quá đông nên chia thành 2 giảng đường – nhưng một người dạy rất dở, và kết quả là học sinh ở giảng đường của người đó sau một thời gian chạy hết sang giảng đường bên kia. Internet sẽ tạo điều kiện cho học sinh tìm đến thầy hay dễ dàng hơn, qua các bài giảng video, các bài giảng online, … Các giảng viên sẽ phải giảng ít giờ hơn trước, nhưng chuẩn bị cho mỗi bài giảng nhiều hơn, và mỗi bài giảng hay sẽ đến được với nhiều học sinh hơn qua internet.
Quay lại việc (hướng dẫn) nghiên cứu khoa học. Làm sao để cho NCS hướng tới làm nghiên cứu khoa học “chất lượng cao” ? Một ông bạn tôi kể chuyện, NCS ở Đại học Berkeley toàn được các GS giới thiệu những vấn đề nghiên cứu, mà nếu giải quyết được thì có thể được giải Nobel hay giải Fields. Ở một nơi khác mà tôi khá quen biết là Đại học Utrecht, tuy có thể không bằng Berkeley, nhưng các luận án tiến sĩ ở đó mà tôi được biết thì luận án nào cũng xuất sắc, in thành sách, và có thể coi là tương đương với 1-2 bài báo dài 50 trang đăng trong một tạp chí khoa học “top 10”. Giá trị khoa học của một luận án như vậy có khi còn cao hơn tổng giá trị của mấy chục bài báo của cả đời một người làm khoa học “trung bình” ở Việt Nam. Bí quyết của họ để đạt được những kết quả có giá trị như vậy là gì ? Đó là: nghiên cứu một vấn đề “thực sự” (có ý nghĩa khoa học lớn), được cấp học bổng tốt trong thời gian đủ dài (không vội vàng: có thể làm PhD trong vòng 5 năm hoặc thậm chí lâu hơn thay vì cứ “3 năm phải ra lò”), để yên tâm tập trung nghiên cứu vấn đề đó (và để học những kiến thức cần thiết phục vụ cho việc nghiên cứu), có thầy hướng dẫn giỏi và điều kiện làm việc tốt, và không bị sức ép của những thứ hình thức (như phải thi chính trị, phải đăng mấy bài báo, …) hay sức ép về tài chính làm cản trở nghiên cứu. Ở Việt Nam bao giờ cũng phải tạo được những điều kiện như vậy, thì mới hy vọng có nhiều NCS “ra lò” trở thành nhà khoa học thực sự.(theo Zung's website)
Tuyển sinh đại học vẫn luẩn quẩn “đổi mới”
Vì sao tất cả các chủ trương đổi mới về thi cử của ngành luôn vấp phải sự không đồng thuận của xã hội? Phải chăng, vì đó là sản phẩm của nền GD rất thiếu lý luận khoa học GD hướng đạo, vì thế mà sản phẩm “chẳng giống ai?”

(Ảnh chỉ có tính minh họa)
Gần với dự báo của các nhà “thời tiết”, đợt 2 so với đợt 1 của kỳ thi tuyển sinh ĐH 2009, khí hậu nắng nóng hơn, nhưng cũng không thế so với cái “nắng nóng”của tâm lý thí sinh. Thi ĐH bao giờ cũng là đỉnh điểm căng thẳng của mọi kỳ thi, hội tụ và chất chứa mọi hy vọng chờ mong, mọi lo âu phấp phỏng của tuổi trẻ.
Không chỉ thí sinh, sự căng thẳng cũng diễn ra trong tâm lý ngành giáo dục. Bởi đợt thi thứ hai, số thí sinh dự thi tuy ít hơn đợt một nhưng lại phức tạp hơn hẳn về khối thi (B, C, D, H, M, N,…), số môn thi (Văn, Sử, Địa, Sinh học, Ngoại ngữ, các môn năng khiếu) đến hình thức thi (số môn thi tự luận nhiều hơn hẳn)…
Căng thẳng còn bởi áp lực xã hội- sự đòi hỏi chính đáng của các bậc cha mẹ thí sinh, của đông đảo người dân quan tâm lo lắng đến GD đất nước, giữa nhiều thất vọng về niềm tin, về đạo lý, kỷ cương xã hội, vẫn gắng trông mong một kỳ thi tuyển sinh công bằng, trung thực và khách quan.
“Chờ đợi mãi cuối cùng em cũng đến…”. Câu thơ lãng mạn của thi sĩ Hoàng Nhuận Cầm có vẻ như lại ứng vào vận thi cử. Cái kết “suôn sẻ, an toàn, đúng quy chế” của cả kỳ thi, cuối cùng cũng đã đến với ngành giáo dục. Đó cũng là cái kết của sự bài binh bố trận chiến thuật thi theo “3 chung” suốt tám năm nay của ngành. Và còn phải kể “1 chung” nữa đã thành nếp- “chung vai chia sẻ” của toàn thể các ngành, các đoàn thể trong xã hội mỗi dịp có kỳ thi.
“Dư chấn” những đề thi và của kỳ thi
Nổi lên trong kỳ thi, đáng chú ý nhất là đề thi, yếu tố nhạy cảm hàng đầu.
Đề thi của các khối A, B, C, D…đều được các chuyên gia đánh giá tốt, bám sát chương trình lớp 12, không đánh đố nhưng có khả năng phân loại thí sinh. Sự đánh giá các đề thi có thể mỹ mãn hơn nếu không xảy ra một “dư chấn” làm 33000 thí sinh thi môn Lý, khối A, đợt thi đầu tiên tại cụm thi Quy Nhơn hoang mang.
Đó là đề thi in ra từ đĩa CD của cụm thi này thiếu dấu trừ (-) trong câu: “Nguyên tử hydro đang ở trạng thái cơ bản có mức năng lượng bẳng 13,6eV (lẽ ra là -13,6eV). Để chuyển lên trạng thái có mức năng lượng 3,4eV (lẽ ra là -3,4eV), thì nguyên tử…”.
“Dư chấn” này làm hoảng hồn Bộ GD. Ngay lập tức, Ban Chỉ đạo thi quốc gia phải họp bàn và xử lý: Thang điểm chấm cho số thí sinh này là 10 điểm cho 49 câu trắc nghiệm (cả nước phải là 50 câu).
“Dư chấn” này bước đầu được Trường ĐH Quy Nhơn xác định do đã sử dụng phần mềm điều khiển máy in HP5100tn chưa tương thích với hệ điều hành Windows Vista. Nhưng cái gốc của sự sai sót vẫn là con người. Ban đề thi ĐH Quy Nhơn không thực hiện nghiêm túc quy định của Bộ GD- kiểm tra bản in sao với đề thi gốc trên máy tính sau khi đã giải mã. Theo ông Phạm Vũ Luận, Thứ trưởng GD, hiện ngành còn chờ kết luận cuối cùng của cơ quan điều tra có thẩm quyền.
Nhưng cũng tại kỳ thi này, xung quanh đề thi, lại có một “dư chấn” khác làm xúc động lòng người. Đó là đề thi Văn (khối C) đã gây xôn xao dư luận và nhận được nhiều lời ngợi khen. Đề thi đòi hỏi thí sinh phải có tư duy sáng tạo riêng mình, luận về một phẩm chất người- tính trung thực- từ câu nói bất hủ của cố Tổng thống Mỹ Lincoln, trích trong bức thư gửi cho thầy giáo của con mình: “Xin thầy hãy dạy cho cháu biết chấp nhận thi trượt còn vinh dự hơn gian lận trong khi thi.....”.
Cũng vì thế, ngay lập tức, đề thi gây ra các cuộc tranh luận thú vị ở các góc độ khác nhau. Khi người ta so sánh giữa yêu cầu thí sinh viết về phẩm chất trung thực với thực tế thi cử lâu nay đầy sự gian lận, với cuộc sống xã hội đầy sự giả dối, dối trá…
Ở góc độ khác, lại có vị giáo sư, quản lý một trường ĐH trách cứ vì sao lấy câu nói của một “cố tổng thống Mỹ” (!). Tuy nhiên, mới đây, trên báo chí lại có những thông tin khiến dư luận xã hội một lần nữa xôn xao. Đó là rất có thể, lá thư đó không phải của A. Lincoln (?).
Cho dù lá thư có thể không phải của một vị chính khách vĩ đại như lâu nay người ta lầm tưởng và ngộ nhận, thì điều lớn lao hơn chính là ở chỗ lá thư trứ danh đó, có thể là của một con người cụ thể, vô danh, nhưng đã bộc lộ một nhân cách văn hóa lớn có tầm nhân loại. Bởi lẽ đó mà lá thư trở thành bất hủ, vượt qua bao thời gian, không gian lịch sử, và nó đã "tạc" trong tâm thức của nhiều người làm cha, làm mẹ chân chính trên trái đất này khao khát dạy con nên người.
Còn “dư chấn” của kỳ thi là êm ả, nhưng có thực nghiêm túc? Thống kê của ngành GD cho biết: Số thí sinh bị xử lý chỉ 275 em, giảm hẳn so với năm trước. Tuy nhiên trong thi cử, số thí sinh bị xử lý tăng hay giảm luôn mang tính hai mặt của vấn đề. Bởi biết đâu, số thí sinh bị xử lý giảm vì giám thị coi thi không nghiêm, hoặc dễ dãi thì sao?
Xin hãy nhìn vào diễn biến và kết quả kỳ thi tốt nghiệp THPT 2009 mới đây. Mặc dù được khen là kỳ thi kỷ cương tốt nhất từ trước tới nay, nhưng ngành GD đã không lý giải nổi có tới gần chục tỉnh, giáo dục vào loại khó khăn, năm trước tỷ lệ tốt nghiệp khá thấp, năm nay tăng vọt đáng ngờ…
Không giống nàng thơ của thi sĩ Hoàng Nhuận Cầm, thi cử vẫn luôn mang gương mặt của người đàn bà bí ấn và lọc lõi, vừa tỏ ra thật thà, vừa ranh mãnh, vừa cam chịu vừa ma giáo…
Kết với “chàng” nào: “3 chung”, “tự chủ” hay “2 trong 1”?
Trước những phản ứng khá mạnh của dư luận xã hội về chủ trương thi “2 trong 1” và thực tiễn kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2009, ngành GD vừa tuyên bố, năm 2010 chưa triển khai phương án này. “Chưa” không có nghĩa là “không”.
Tuy nhiên, tại kỳ thi tuyển sinh ĐH này, trong xu thế đòi quyền tự chủ, ý kiến khá nhiều trường ĐH lại cho rằng, đã đến lúc ngành GD nên tổng kết phương án “3 chung”, trả lại quyền tự chủ tuyển sinh cho các trường như trước đây. Cho thấy, thi cử dường như đang đứng ở ngã ba đường…Kết với "chàng" nào đây: "3 chung"; "tự chủ" hay "2 trong 1"?

(Ảnh chỉ có tính minh họa)
Từ thực tiễn của nhiều năm qua, xin hãy thử làm phép “so tài”:
1) Phương án “3 chung”:
Cái hay: - Đề thi chung, nên đánh giá mặt bằng chất lượng mỗi trường ĐH thực chất hơn, buộc các trường chấn chỉnh cách dạy- cách học, nâng cao vị thế, thương hiệu.
- Giảm được hiện tượng tiêu cực các “lò luyện thi” mọc như nấm tại các trường, gây “náo loạn” xã hội một thời, làm tốn kém tiền của, thời gian, công sức thí sinh.
- Giảm được sự tốn kém của thí sinh và gia đình họ.
Cái dở: - Do đề thi chung, việc bảo mật đòi hỏi cực kỳ nghiêm cẩn, an toàn tuyệt đối, bởi nếu sơ sểnh, sự thiệt hại cả tiền bạc và uy tín của ngành rất lớn.
- Việc xét tuyển còn cần tiếp tục hoàn thiện hơn nữa, tránh sự xáo trộn, vất vả cho thí sinh.
2) Phương án “tự chủ tuyển sinh”:
Cái hay: - Đề thi do các trường hoặc một trường ĐH lớn trong một khối các trường tự ra, vì vậy, nếu có sự cố, mức độ thiệt hại không lớn.
Cái dở: - Đề thi do các trường tự ra, nên rất khó đánh giá được mặt bằng chất lượng. Do chấm hệ số, nhiều trường tạo “chất lượng ảo” đầu vào, không thực chất.
- Do tự ra đề, nên các “lò luyện thi” sẽ mọc lên thu hút thí sinh có nguyện vọng vào trường đó luyện thi cho hợp “gu”. Tiêu cực sẽ tiếp tục xảy ra, làm náo loạn xã hội như trước đây.
Nhìn nhận một cách khách quan, đặt cả hai phương án thi tuyển sinh vào bối cảnh xã hội còn nhiều tiêu cực, gian dối như hiện nay, có thể thấy, thi “3 chung” vẫn nhiều phần ích lợi hơn.
Không ai muốn phủ nhận lợi ích của việc để các trường tự chủ tuyển sinh, hạn chế sự “ôm đồm” của quản lý nhà nước- Bộ GD. Tuy nhiên, việc các trường tự chủ tuyển sinh cần có lộ trình và cần hội tụ hai điều kiện sau:
a) Các trường phải được công nhận kiểm định chất lượng, đủ các điều kiện đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất, chương trình, giáo trình…
b) Nâng cao năng lực quản lý của hiệu trưởng, có cơ chế kiểm soát, bảo đảm quyền tự chủ nhà trường đúng nghĩa.
Một ví dụ mới đây, năm học 2008, Bộ GD kiểm tra công tác tuyển sinh, đã phát hiện 18 trường ĐH quy mô tuyển sinh vượt quá chỉ tiêu so với các điều kiện chất lượng, buộc phải trừ chỉ tiêu tuyển sinh các trường này vào năm sau- một giải pháp “phạt” cơ học, mang tính tình thế, không đủ sức răn đe. Như vậy, tự chủ tuyển sinh muốn khả thi vừa phải có cơ chế kiểm soát, vừa phải mang tính tự giác cao, nếu các thầy thực sự vì lợi ích thí sinh, không vì lợi ích kinh tế riêng mình.
3) Phương án “2 trong 1”:
Nếu như yêu cầu chỉ còn một kỳ thi, thì dứt khoát, phải là kỳ thi tốt nghiệp THPT quốc gia. Dựa trên kết quả, mà xét tốt nghiệp ĐH.
Rất nhiều ý kiến phản đối chủ trương này. Tuy nhiên phải thấy, muốn xét tuyển ĐH, học sinh cần có một barem kiến thức tối thiểu. Mặt khác, lý lẽ hai kỳ thi có hai mục tiêu khác nhau: Một kỳ thi là tốt nghiệp phổ thông, một kỳ thi là tuyển chọn ĐH thì về lo gic hình thức, có vẻ đúng, nhưng về nội dung thi, thực chất vẫn phải bám sát nội dung chương trình lớp 12. Thậm chí nhiều năm trước đây, dư luận xã hội từng la ó, đòi ngành GD ra đề thi tuyển sinh ĐH không nên "đánh đố" thí sinh, bởi các em mới tốt nghiệp phổ thông. Như vậy, sự khác nhau cơ bản nằm ở đầu ra, ở toàn bộ tổ chức và quá trình đào tạo mang tính chất sàng lọc. Mặt khác, với các trường ĐH chất lượng cao, vẫn có thể tổ chức sát hạch một số môn theo mục tiêu đào tạo của trường mình
Vấn đề là ngành GD cần hoàn thiện thiết kế chặt chẽ hơn nữa, nếu vẫn muốn theo đuổi anh chàng "2 trong 1" xấu số:
- Ngân hàng đề thi phải được tiếp tục củng cố thực sự có chất lượng, đáp ứng yêu cầu.
- Mở rộng loại hình thi trắc nghiệm đến tất cả các môn thi. Bảo đảm mỗi phòng thi 24 thí sinh/ 24 mã đề thi.
-Tổ chức thí sinh thi tại các cụm thi ĐH như hiện nay, không tổ chức thi tại địa phương như kỳ thi tốt nghiệp THPT.
Nhưng mâu thuẫn rõ nhất ở phương án này, là chỉ có một kỳ tuyển sinh, trong khi ngành đang thúc đẩy các trường đào tạo theo tín chỉ. Với hình thức đào tạo tín chỉ, kinh nghiệm các nước cho thấy các trường có thể tuyển sinh "rải ra", tới 2 lần/ năm.
Vì vậy, đến thời điểm này, cho dù thành tâm và thiện chí, dư luận xã hội vẫn phản đối quyết liệt. Những kiến nghị đa chiều vừa có lý nhưng cũng nhiều phần thiếu thực tiễn, đã đặt ngành GD vào một tâm lý hoang mang, do dự, lưỡng lự…Áp lực xã hội mạnh hơn cả áp lực cần đổi mới.
Một câu hỏi đặt ra: Vì sao tất cả các chủ trương đổi mới về thi cử của ngành luôn vấp phải sự không đồng thuận của xã hội?
Phải chăng, vì đó là sản phẩm của nền GD rất thiếu lý luận khoa học GD hướng đạo, vì thế mà sản phẩm “chẳng giống ai?”
Tuyển sinh ĐH nói riêng, đổi mới thi cử GD nói chung, vì thế cứ luẩn quẩn chẳng lối ra?(theo tuanvietnam)
Ngày đó ....Bây giờ
21 Năm khoảng thời gian quá dài đề người ta về đây găp lại và bùi ngùi :

Cổng trường bây giờ

21 năm về trước chúng tôi được tập trung tại đây
nghe hướng dẫn làm thủ tục nhập học


Dãy nhà hai tầng bây giờ

Nơi chúng tôi chụp chung tấm ảnh rồi chia tay
Và đây dãy nhà 3 tầng



Còn đây là hình ảnh trò chuyện của ngày gặp lại


Các bạn dùm đối chiếu xem người trong hình cũ và mới nhé !!

Người nầy nhắc ngừoi kia điện thoại vang liên tục vui nhất là Anh Phi ngồi cạnh anh Hùng mà gọi còn gọi điện thoại!!!)
Chúng tôi vừa trò chuyện vừa chờ đợi


Và vài người bạn lại tiếp tục đến




Chổ chúng tôi ngồi đây là chổ chụp hình của đội bóng ngày xưa
Ngày đó chúng tôi chơi với nhau như vậy nè




Cặp vừa mới kỷ niệm 25 năm ngày tỏ tình đầu tiên

*Chuyện về toán K10 còn tiếp tập 2,3.
*Nhân đây xin thay mặt Lớp Toán 10 xin chia buồn cùng gia đình bạn Khiêm.
*Theo sự bàn tính sơ khởi ngày họp mặt năm sau tổ chức tải Cần thơ -Khoảng giữa tháng 7
Các bạn tải toàn bộ hình ảnh về ngày hợp mặt tại đây (download)
Bài có liên quan:Toán 10 ơi nhớ quá
Đề thi và đáp án Môn Văn Khối D -Tuyển Sinh Đại Học 2009
Hsmath.net giới thiệu Đề thi và đáp án Môn: Văn khối D -Tuyển Sinh Đại Học 2009
Tải tài liệu tại đây(download)
Đề thi và đáp án Môn Sinh Vật -Tuyển Sinh Đại Học 2009
Hsmath.net giới thiệu Đề thi và đáp án Môn: Sinh vật -Tuyển Sinh Đại Học 2009
Tải tài liệu tại đây(download)
Đề thi và đáp án Môn Hóa Học -Tuyển Sinh Đại Học 2009
Hsmath.net giới thiệu Đề thi và đáp án Môn Tiếng ANH -Tuyển Sinh Đại Học 2009
Tải tài liệu tại đây(download)