Tìm thấy răng của Galileo

Galileo Galilei (sinh năm 1564) là nhà thiên văn, vật lý, toán học và triết học lỗi lạc người Italy. Ông từng bị Tòa thánh Vatican đưa ra xét xử tại Tòa án dị giáo do nói rằng trái đất xoay quanh mặt trời. Vào thời đó Kinh thánh dạy rằng trái đất là trung tâm của vũ trụ và mọi thiên thể, gồm cả mặt trời, xoay quanh nó. Trước tòa Galileo buộc phải thề rằng ông sẽ từ bỏ thuyết nhật tâm. Nhưng ngay sau khi bước ra khỏi phòng xét xử, nhà thiên văn nói lớn: "Dù sao trái đất vẫn quay!"

Nhà thiên văn mất vào năm 1642. Vào năm 1737 thi hài ông được đưa vào nhà thờ Santa Croce ở thành phố Florence, Italy.

Paolo Galluzzi, giám đốc Bảo tàng Lịch sử Khoa học Italy, cho biết, nhân dịp này những người ngưỡng mộ Galieo đã tìm cách đánh cắp những bộ phận cơ thể ông. Họ lấy được ba ngón tay, một đốt xương sống và một răng. Một ngón tay được tìm thấy ngay sau đó và giờ đây nó nằm trong Bảo Lịch sử Khoa học. Đốt xương sống được lưu giữ tại Đại học Padua - nơi Galileo giảng dạy nhiều năm.

Nhưng chiếc răng và hai ngón tay của nhà thiên văn lỗi lạc - gồm ngón cái và ngón giữa bên tay phải - vẫn chưa được tìm thấy. Galluzzi nói rằng mới đây người ta phát hiện ra rằng hồi ấy một hầu tước người Italy đã giữ nó. Ông ta cho những mẩu xương vào hộp gỗ và chúng được truyền từ đời này sang đời khác.



"Sau khi biết đó là những mẩu xương của Galileo, hậu duệ của vị hầu tước kia quyết định đem bán đấu giá chúng. Nhưng tới năm 1905, không ai biết bất kỳ thông tin nào về những mẩu xương đó nữa. Vì thế các học giả cho rằng chúng đã mất vĩnh viễn", Galluzzi kể với Telegraph.

Nhưng rồi đột nhiên chiếc hộp chứa những mẩu xương xuất hiện trong một cuộc bán đấu giá và một nhà sưu tầm đã mua nó. Người này liên lạc với Galluzzi và một số quan chức văn hóa của thành phố Florence để nhờ họ xác minh xem có phải đó là những mẩu xương của Galileo hay không.

Với những đóng góp to lớn trong cuộc cách mạng khoa học, Galileo được người đời sau mệnh danh là "người khai sinh thiên văn học hiện đại", "cha đẻ của vật lý hiện đại" và "người mở đường của khoa học hiện đại". Vào những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, Giáo hoàng John Paul II đã phục hồi danh dự cho Galileo và tuyên bố Tòa thánh đã mắc sai lầm.

Telegraph cho biết, Bảo tàng Lịch sử Khoa học sẽ trưng bày hai ngón tay và chiếc răng của Galileo vào mùa xuân năm sau.

Đọc tiếp >>

Băng trên đảo lớn nhất thế giới đang tan nhanh

Tốc độ tan băng trên hòn đảo Greenland đang tăng dần và tình trạng đó khiến mực nước biển dâng nhanh hơn trong vài năm qua.

Greenland, nằm ở phía bắc Đại Tây Dương và thuộc Đan Mạch, là đảo lớn nhất thế giới với diện tích hơn 2,166 triệu km vuông. 2/3 diện tích đảo nằm trong vùng Bắc Cực. Giới khoa học khẳng định mực nước biển sẽ tăng thêm tới 7 m nếu tất cả băng trên đảo Greenland tan chảy.

Theo Telegraph, dữ liệu của nhiều vệ tinh cho thấy trước năm 2006, sự tan chảy của băng trên đảo Greenland khiến mực nước biển tăng thêm 0,46 mm. Nhưng trong giai đoạn 2006-2008, mực nước biển đã tăng thêm 0,75 mm.

Reuters cho biết, Michiel van den Broeke, một nhà khoa học của Đại học Utrecht (Hà Lan), cùng một số đồng nghiệp sử dụng các mô hình máy tính để kiểm chứng dữ liệu của vệ tinh.

“Tốc độ tan băng tăng dần trong 10 năm qua và tăng hơn ba lần so với đầu thập niên 90. Một khối lượng băng khổng lồ đã biến mất sau những mùa hè từ năm 2006 tới 2008”, van den Broeke tuyên bố.

Nhóm nghiên cứu nói rằng tốc độ tan băng tăng lên bởi nhiều nguyên nhân, song tình trạng ấm lên toàn cầu là nhân tố lớn nhất.

Jonathan Bamber, một chuyên gia của Đại học Bristol (Anh) và cũng tham gia nghiên cứu, cho rằng, với tốc độ tan băng hiện nay của Greenland, những trận lụt khủng khiếp sẽ xảy ra theo chu kỳ 5 năm thay vì hàng trăm năm như trước kia. Cuộc sống của khoảng 1,2 tỷ người sống ven biển sẽ bị đe dọa.


Lãnh đạo của khoảng 190 nước sẽ nhóm họp tại thủ đô Copenhagen của Đan Mạch từ ngày 7 tới 18/12 để thảo luận một thỏa thuận về cắt giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính. Giới khoa học lo ngại tình trạng ấm lên toàn cầu sẽ làm tăng thêm số lượng bão mạnh, hạn hán, lở đất và đẩy nhiều loài tới bờ vực tuyệt chủng.

Nghiên cứu của nhóm van den Broeke cho thấy Greenland đã mất khoảng 1.500 tỷ tấn băng từ năm 2000 tới năm 2008. Sự tan băng trên đảo Greenland khiến các đại dương nhận thêm hơn 273 tỷ tấn nước mỗi năm. Một tỷ tấn nước có thể đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của 17 triệu người.

Năm 2007 Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu từng dự báo mực nước biển có thể tăng thêm 18-59 cm trước năm 2100. Sự giãn nở tự nhiên của nước khi nhiệt độ tăng sẽ là nguyên nhân chính khiến mực nước biển dâng, chứ không phải hiện tượng băng tan chảy.

Nếu nước không giãn nở tự nhiên, quá trình tan băng của đảo Greenland chỉ làm mực nước biển dâng thêm 0,75 mm/năm. Nhưng van den Broeke cho rằng, nếu tốc độ tan băng của đảo vẫn duy trì trong 100 năm nữa, mực nước biển sẽ tăng thêm 7,5 cm.

Đọc tiếp >>

Phó giáo sư ở tuổi 31

Sáng nay, thầy Bùi Thế Duy, 31 tuổi, ĐH Quốc gia Hà Nội 31 đã được phong tặng Phó giáo sư. Giáo sư trẻ nhất được phong tặng năm nay là thầy Võ Văn Hoàng (45 tuổi) ĐH Quốc gia TP HCM.
Sáng nay, Hội đồng chức danh Nhà nước đã trao giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn chức danh cho 65 Giáo sư và 641 Phó giáo sư năm 2009, được chọn lựa từ hơn 1.100 hồ sơ xin xét duyệt.
Trong số 65 nhà giáo được công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh Giáo sư có 57 người thuộc biên chế của các trường đại học, học viện (chiếm gần 88%); 10% là nhà giáo nữ và 67% nhà giáo trong độ tuổi 50-59.



Năm nay, Giáo sư trẻ nhất là Võ Văn Hoàng (45 tuổi) giảng viên ngành Vật lý ĐH Bách khoa - ĐH Quốc gia TP HCM và người cao tuổi nhất là GS Lê Hồng Kế (69 tuổi), ngành kiến trúc, Hội Quy hoạch Phát triển Đô thị Việt Nam.

Trẻ nhất trong số các Phó giáo sư mới được công nhận là Bùi Thế Duy (31 tuổi) ngành Tin học - ĐH Công nghệ, ĐH Quốc gia Hà Nội và người cao tuổi nhất là Lương Kim Chung (71 tuổi) ngành Thể dục thể thao.

Đáng lưu ý, có 3 người Việt Nam ở nước ngoài đăng ký xét duyệt gồm thầy giáo Vũ Hà Văn (39 tuổi) - Giáo sư Toán học ở ĐH Rutgers (Mỹ); thầy giáo, bác sĩ Trần Hải Anh (39 tuổi) - Phó giáo sư ngành Y học ở ĐH Toyama (Nhật Bản) và thầy giáo Thái Duy Bảo (48 tuổi) - Phó giáo sư ngành Ngôn ngữ ở ĐH Nagoya (Nhật Bản).

Theo Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân, hiện cả nước có hơn 1.300 giáo sư và hơn 7.000 phó giáo sư. Do đó, những thầy giáo này sẽ đóng vai trò lớn trong việc hướng dẫn, dìu dắt đội ngũ tiến sĩ, thạc sĩ vốn còn thiếu và yếu ở nước ta.

Đọc tiếp >>

“Ngày rất đặc biệt” của GS Nguyễn Lân Dũng

18 tuổi đã tốt nghiệp ĐH Sư phạm, hơn nửa thế kỷ làm thầy, GS.TS Nguyễn Lân Dũng đã có những kỷ niệm rất mực sâu sắc với nghề giáo. Với ông, 20/11 là một ngày rất đặc biệt. Ngày để ông tri ân những người thầy giỏi giang và mẫu mực…

Dưới đây là tâm sự của GS Nguyễn Lân Dũng khi ngày 20/11 của năm 2009 đang cận kề:

Tôi có lẽ là một trong số rất ít người đã học qua 4 Trường Sư phạm (Sư phạm Sơ cấp Việt Bắc, Sư phạm Sơ cấp Khu học xá Nam Ninh, Sư phạm Trung cấp Khu học xá Nam Ninh, Đại học Sư phạm Khoa học Hà Nội). Tôi cũng có lẽ là người trẻ nhất (cùng anh Nguyễn Văn Hiệu) tốt nghiệp Đại học Sư phạm khi chỉ mới 18 tuổi.

Vì còn quá trẻ nên tôi được phân công về dạy ở Trường Trung cấp Nông lâm Trung ương. Không ngờ đây là nơi toàn cán bộ đi học. Nhiều học sinh của tôi hồi ấy (Khóa III) về sau trở thành các cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước (Bộ trưởng, Thứ trưởng, Bí thư tỉnh ủy...).

Sau một năm tôi được điều về Trường Đại học Tổng hợp và tham gia giảng dạy tại đấy từ Khóa I đến ngày về hưu (trên nửa thế kỷ), sau đó tôi tiếp tục tham gia công tác đào tạo Tiến sĩ và chỉ đạo nghiên cứu khoa học với tư cách là Chuyên gia cao cấp của Viện Vi sinh vật và Công nghệ sinh học thuộc Đại học Quốc gia Hà Nôi. Con đường hướng tôi đến ngành sư phạm chính là do quá trình đào tạo này.


GS Nguyễn Lân Dũng tại Bảo tàng giống chuẩn vi sinh vật Hoa Kỳ (ATCC)

Ngày 20 tháng 11 trước đây là ngày Kỷ niệm Hiến chương các Nhà giáo, về sau được Chính phủ quyết định chuyển thành ngày Nhà giáo Việt Nam. Ngày 20 tháng 11 có ý nghĩa rất lớn đối với tôi. Trước hết đó là ngày tôi nghĩ đến công lao của các thày cô giáo đã có công tận tụy dạy dỗ chúng tôi qua các cấp, tôi viết thư hay đến tận nhà để chúc mừng. Tiếc thay, cho đến hôm nay số thầy cô dạy lớp chúng tôi không còn đủ số lượng đếm trên các ngón của một bàn tay!

Tôi rất tâm đắc với suy nghĩ của người bạn học suốt cấp 2 và cấp 3 với tôi - nhà văn Ma Văn Kháng - trong cuốn hồi ký mới xuất bản anh đã viết: Lâu nay khi nói về đào tạo nhân tài, theo như tôi hiểu các nhà giáo dục cách tân thường nhấn mạnh quá đáng đến việc phát huy tính tích cực của học sinh. Tôi nghi ngờ điều này. Trước sau tôi vẫn đinh ninh: Tất cả là từ ông thày. Đối với tôi thì đúng là như vậy.

Lớp chúng tôi may mắn ngay từ bậc phổ thông đã được học với các thày giáo giỏi giang và mẫu mực, đó là các thày Hoàng Tụy, Lê Bá Thảo, Trần Văn Khang, Trần Văn Giáp, Hoàng Như Mai, Nguyễn Hữu Tảo...

Lên Đại học khi mới giải phóng Thủ đô các thầy giáo của chúng tôi (Dương Hữu Thời, Đào Văn Tiến, Lê Khả Kế, Nguyễn Văn Chiển, Lê Quang Long, Trương Cam Bảo...) đã phải tự học cấp tốc tiếng Nga (qua sách tiếng Pháp) để có thể chuyển tải các kiến thức mới nhất trong các giáo trình biên soạn rất nhanh để dạy cho chúng tôi. Các thầy là tấm gương tự học, tấm gương yêu khoa học, tấm gương đạo đức nghiêm túc còn mãi trong tâm trí mỗi chúng tôi mặc dầu hầu hết các thầy đã về cõi vĩnh hằng.

Tôi được phân công dạy môn Vi sinh vật học - một chuyên ngành tôi chưa biết một chữ nào (!). Noi gương các thầy, tôi đã tự học một lúc hai ngoại ngữ để dịch sách và tìm đến các giáo sư bên trường Y để học hỏi thêm (các GS Đặng Văn Ngữ, Hoàng Tích Mịnh, Trần Thị Ấn) dù đó là các GS chỉ chuyên sâu về y học.

Trên nửa thế kỷ dạy học có biết bao nhiều kỷ niệm. Cũng mừng hầu hết là các kỷ niệm vui chứ hầu như không có những kỷ niệm buồn. Tôi ghi nhớ lời khuyên của GS Đặng Văn Ngữ: Dạy Đại học em phải chú ý đến ba điều: học ngoại ngữ, tham gia nghiên cứu khoa học và từng bước xây dựng sách giáo khoa. Tôi vui mừng đã làm theo được ba lời khuyên này.

Tôi không được đào tạo ở nước ngoài nhưng có thể tham khảo được sách vở với 4 ngoại ngữ (Anh, Pháp, Nga, Hoa), tôi đã xây dựng được đơn vị nghiên cứu ngày một vững mạnh (từ Phòng nghiên cứu chuyên đề cấp Trường, đến Trung tâm nghiên cứu cấp Bộ, đến Viện nghiên cứu cấp Nhà nước). Tôi đã đưa Hội Vi sinh vật học và Bảo tàng giống chuẩn vi sinh vật tham gia được vào các hệ thống quốc tế (IUMS và WFCC).

Tôi và các đồng nghiệp đã xây dựng được Giáo trình Vi sinh vật học dùng chung cho nhiều trường Đại học, mặc dù đã được tái bản nhiều lần nhưng gần đây chúng tôi viết mới lại hoàn toàn theo các tài liệu tham khảo gần đây nhất.

Mỗi năm đến ngày Nhà giáo Việt Nam tôi lại tưởng nhớ đến các thầy cô giáo đã góp phần đào tạo tôi mà phần lớn đã trở thành người thiên cổ. Tôi rất vui sướng thấy nhiều sinh viên mà tôi góp phần đào tạo đã có nhiều cống hiến xứng đáng trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Càng hạnh phúc hơn khi thấy lớp sinh viên trẻ hiện nay ngày càng đông đảo, ngày càng có cơ hội và điều kiện học tập tốt hơn rất nhiều so với thế hệ chúng tôi.

Một cuộc chuyển giao thế hệ đã trở thành hiện thực. Bắt đầu hình thành một đội ngũ trí thức trẻ có kiến thức hiện đại đang chuẩn bị cho sự nghiệp xây dựng một xã hội công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước sau năm 2020. Tôi tin tưởng những tồn tại, bất cập trong giáo dục sẽ sớm được khắc phục và giáo dục sẽ được chấn hưng nhanh chóng như mong muốn của nhân dân cả nước.

GS.TS Nguyễn Lân Dũng
Nguồn Dantrionline


Đọc tiếp >>

Thơ tình cuối mùa thu

Những ngày tháng Mười một trở thành ngày của tình yêu và nỗi nhớ, giăng vào không gian xa cách, và có lẽ bởi vì nhớ thương nên năm nào cuối thu Hà Nội cũng mưa.
a khúc: Thơ tình cuối mùa thu
Nhạc: Phan Huỳnh Điểu
Lời thơ: Xuân Quỳnh
Ca sỹ: Bảo Yến
-----

Tôi vẫn đạp xe lang thang qua từng con phố cho nỗi nhớ nguôi ngoai, rồi lại dừng chân ở một quán nhỏ ven hồ Tây, chìm đắm trong giai điệu trữ tình quen thuộc của Thơ tình cuối mùa thu mà cảm giác như đang có em bên mình...


Cuối trời mây trắng bay
Lá vàng thưa thớt quá
Phải chăng lá về rừng
Mùa Thu đi cùng lá

Mùa Thu ra biển cả
Theo dòng nước mênh mông
Mùa Thu vào hoa cúc
Chỉ còn anh và em
Là của mùa Thu cũ
Chỉ còn anh và em


Vẫn là giọng hát ngọt ngào và đằm thắm của Bảo Yến, vẫn là những yêu thương trăn trở giăng vào không gian những ngày cuối thu, làm rung lên trong lòng người thật nhiều xúc cảm, đưa hồn người chìm đắm vào một bức tranh của tình thu ngập tràn nhung nhớ...

Ta nhìn thấy thời gian chảy trôi trong cảnh vật (là mây trắng bay về phía cuối trời, là lá vàng rụng rơi tiễn mùa thu xa khuất), trong cảm nhận (thu theo những con sông dòng suối đổ về biển lớn mênh mông, thu giấu mình vào trong hoa cúc, hanh hao vàng lên một mùa nhung nhớ)... Tất cả vận động, đổi thay, "Chỉ còn anh và em là của mùa thu cũ", "chỉ còn anh và em" cùng lắng lòng tự vấn, chiêm nghiệm về tình yêu của đôi mình:

Tình ta như hàng cây
Đã yên mùa bão gió
Tình ta như dòng sông
Đã yên ngày thác lũ


Âm điệu của bài hát bất ngờ vút lên, như một niềm tin, như một lời khẳng định về một quy luật của tình yêu: Đi qua những bão gió, vượt qua trăm ngàn thác lũ đời người, tình yêu sẽ trở nên đẹp diệu kỳ, nồng nàn và ý nghĩa hơn, để lòng ta thêm yêu thương, trân trọng nhau cùng những thủy chung vững bền...

Có những chiều cuối thu lang thang trên con đường ngoại ô, tôi vẫn hay ngân nga hát những câu hát này, rồi chợt dừng lại hỏi em: "Tình ta liệu "đã yên mùa bão gió"," yên mùa thác lũ" thực sự chưa, em chỉ cười, nép vào vai tôi thì thầm: "Anh không biết, em không biết, và có lẽ hai ta không cần biết. Bởi dẫu bão gió thì hàng cây vẫn sẽ vươn lên, dẫu mưa lũ thì dòng sông vẫn về được với biển lớn. Và những "hàng cây", những "dòng sông" của đôi ta - dẫu chưa bình yên - thì rồi sẽ bình yên - khi cùng bên nhau, trao nhau yêu thương chân thành rất mực...".

Và em khẽ khàng hát lên khúc tình với mùa thu:

Thời gian như ngọn gió
Cùng theo mùa tháng năm
Tuổi theo mùa đi mãi
Chỉ còn anh và em
Chỉ còn anh và em
Cùng tình yêu ở lại...


Phải rồi, "thời gian như ngọn gió" - mùa nối mùa trôi qua, tuổi theo mùa phôi pha, "chỉ còn anh và em" ở lại đón một mùa mới về tựa những yêu thương ăm ắp trong lòng: mùa tình yêu thủy chung bền vững...

Kìa bao người yêu mới
Đi qua cùng heo may
Chỉ còn anh và em
Cùng tình yêu ở lại
Chỉ còn anh và em
Cùng tình yêu ở lại


Điệp khúc "Chỉ còn anh và em, cùng tình yêu ở lại" ngân nga xuyên suốt bài hát, tạo thành một sợi dây niềm tin son sắt... Và dẫu cả khi có những cuộc tình, những "người yêu mới" đến và đi giữa đời ta - thì vẫn mặc định vẹn nguyên còn mãi một mùa thu ở lại trong lòng nhau - mùa thu mà nơi tim anh và em đã ngân nga, giao hòa những yêu thương chân thành đích thực.

Mà những điều gì là chân thành, là đích thực như thế thì sẽ trường tồn cùng tháng năm, qua thời gian cho đến cuối mỗi đời người... "Thơ tình" viết lên, hát lên vào "cuối mùa thu", cũng có nghĩa là đi đến cuối cuộc đời vẫn còn giữ được những yêu thương ngày cũ, mùa cũ ta trao nhau...

Và có phải vậy chăng, khi sự kết hợp tuyệt vời giữa thơ Xuân Quỳnh và nhạc Phan Huỳnh Điểu đã làm nên một Thơ tình cuối mùa thu nồng nàn và say đắm, lôi cuốn người nghe qua nhiều thế hệ, vang ngân cùng năm tháng trên những cuộc tình?
Tác giả: Lương Đình Khoa -Tuần việt nam













Đọc tiếp >>

"Thần đồng" cracker Jon Johansen: 15 tuổi đại phá Hollywood

Jon Lech Johansen năm nay vừa tròn 21 tuổi, nhưng cái tên "Mr Johansen" đã trở thành biểu tượng của giới công nghệ thông tin châu Âu từ 6 năm về trước, lúc cậu nhóc Jon mới 15 tuổi đã làm con tàu điện ảnh Hollywood tròng trành vì những đợt sóng cracker (bẻ khoá). Câu chuyện lịch sử của Jon đã trở thành đề tài ăn khách cho hàng trăm bộ phim của Hollywood sau này, những người đã một thời bị Jon "đe dọa".

Tuổi thơ "dữ dội"

"Năng khiếu” hack của Jon đã sớm bộc lộ từ năm 12 tuổi, khi cậu nhóc sinh trưởng ở Na Uy bắt đầu viết vài chương trình nho nhỏ - nho nhỏ thôi mà đã rất đáng gờm. Dạo ấy là năm 1996, Computer là một khái niệm chưa phổ biến lắm, Internet lại càng là chuyện xa xôi. "Mr Johansen" bố đã lén vợ tậu một máy tính trị giá cỡ 3 tháng lương, một quyết định táo bạo làm thay đổi cuộc sống cậu quý tử của ông từ lúc đó. Một lần, Johansen bố mang về một chiếc máy ảnh kỹ thuật số, khi tải hình ảnh lên máy tính, phần mềm của máy cứ bị khựng lại giữa chừng không làm sao load xong được. Cay cú, ông bố bèn "cầu viện" con trai, và thế là Johansen con ra tay... viết lại một phần mềm gọn gàng để load toàn bộ hình ảnh chỉ trong... 1 bước, trong khi chương trình chuẩn của chiếc máy ảnh đó "lê lết" đến 25 bước vẫn không xong!

Trong trường tiểu học, nhóc Jon lại càng là một "hiện tượng" khi đã sớm bộc lộ đam mê... chính trị và rất khoái tranh luận các đề tài quốc gia đại sự kiểu "Na Uy có nên gia nhập khối EU không?" hay "Chính phủ nên làm gì để phát triển kinh tế trong thập niên tới?". Giáo viên chủ nhiệm của Jon hãnh diện nói về học trò "cá biệt" của mình: "Cậu ấy sẵn sàng đứng lên và bảo vệ niềm tin của mình đến cùng. Đó cũng là người học trò giỏi vi tính hơn bất cứ... giáo viên vi tính nào cậu từng theo học từ trước đến giờ!".

16 tuổi, mới vào trường trung học được một năm, "Mr Johansen" liền... nghỉ học. Lý do cũng "choáng" y như hành động: "Trường học chẳng có tí thách thức nào". Cậu bỏ ra làm cho một vài công ty viễn thông rồi hợp tác với bố mở một công ty phần mềm với mức lương 4.500 USD một tháng.

Nhưng tất cả những thành tích trên không là gì so với cú đánh dữ dội làm tê liệt cả nền công nghiệp đồ sộ của Hollywood ngay lúc Jon 15 tuổi.

Người hùng của "võ lâm" Âu châu

Cái tên Johansen là nỗi ám ảnh kinh hoàng nhất đối với những "nạn nhân" mà cậu nhóc đã hạ gục trong chuyến phiêu lưu vào ma trận hack, bao gồm những đại gia Fox, Google, Apple, MPAA..., nhưng tên gọi ấy cũng là biểu tượng đẹp đẽ nhất trong lòng hàng ngàn người hâm mộ khắp châu Âu - một ngôi sao không khán giả, không sân khấu nhưng đã "diễn xuất" trên cả tuyệt vời trong những phần mềm vi tính.

Nhắc lại một chút về lịch sử "công nghệ sao chép": thuở khai sinh công nghệ copy, người ta đã biết thu lại những bài hát trong đĩa, album, trên truyền hình... vào băng ghi âm, nhưng chất lượng không cao nên hiển nhiên không ảnh hưởng gì tới các đại gia băng đĩa. Đến thời đại kỹ thuật số, các đĩa CD dễ dàng được sao chép, in sang lại rất "ngọt" nhờ hệ thống âm thanh hiện đại. Các ông trùm băng đĩa bèn tung ra DVD để mã hóa nội dung các bài hát, bộ phim nhằm khống chế "công nghệ sao chép" này (năm 1997). Và Johansen, 15 tuổi, đã can dự vào để làm đảo lộn cả thế giới mã hóa của nền công nghiệp giải trí hái ra tiền đó, mở đầu cho một "thời đại hacker @".

Khởi điểm của cuộc tổng tiến công vào Hollywood này cũng chỉ là một sở thích bình thường - Jon rất khoái xem phim. Cậu mua hơn 300 đĩa DVD và tậu hẳn một dàn "đồ chơi" để có thể xem phim ngay trên cục cưng máy tính của mình (năm 1999). Đĩa phim Mỹ lậu rẻ hơn đĩa bán tại Na Uy nhiều nhưng lại không xem được trên các máy sản xuất tại châu Âu. Nếu là người nào khác, sáng kiến đơn giản nhất là mua ngay một chiếc đầu đọc "made in USA" cho tiện. Nhưng Jon lại làm theo cách khác: cậu viết một chương trình làm vô hiệu hóa các mã bảo mật của các phụ tùng DVD châu Âu này, khiến chúng ngoan ngoãn đọc những đĩa phim "vượt biên" từ Mỹ sang một cách ngon lành. Jon còn hào phóng tung lên mạng chiêu thức này để chia sẻ với các chiến hữu mê phim như mình.

Bước tấn công thứ hai cũng bắt nguồn từ một lý do vô hại. Jon khoái đem theo các đĩa phim khi đi du lịch đây đó, nhưng mang theo nhiều đĩa sẽ hết sức cồng kềnh, bất tiện, khó bảo quản, thế là cậu bèn viết tiếp một chương trình vô hiệu hóa các mã bảo vệ (chống sao chép) trên đĩa để copy chúng vào ổ cứng một cách nhẹ nhàng.

Vẫn hào phóng như lần trước, Jon tung "bí kíp" mới này lên mạng cho "bà con" sử dụng và hồn nhiên ký tên thật: Johansen. Cậu bé 15 tuổi ngây thơ cho rằng mình đang làm một "nghĩa cử đẹp". Nhưng "nghĩa cử" ấy đã làm rúng động giới truyền thông. Chỉ trong vòng 1 tuần lễ, báo chí giật những tít to đùng về cậu bé ngang nhiên "tấn công Hollywood bằng những chương trình bẻ khóa siêu hạng".

Hollywood, đương nhiên, không thể ngồi im cho nhóc Jon tuốt bên kia đại dương đe dọa. Sau khi The Matrix (Ma trận) và The Fifth Element, hai bộ phim nổi tiếng bị "cởi khoá" trên mạng, mở màn cho những cuộc xâm nhập ồ ạt khác, các hãng phim rục rịch phản đòn. Đại gia MPAA của Mỹ (Motion Picture of America) yêu cầu Jon "delete" chương trình nguy hiểm của cậu khỏi mạng Internet. Jon đồng ý, nhưng 1 tuần sau, khi luật sư của Jon bố tìm được một đạo luật nói rằng hành động của cậu vô hại, Jon lập tức phát tán trở lại chương trình xâm nhập của mình.

"Tội phạm quốc tế" trắng án

Jon trở thành hiện tượng đình đám nhất của mọi sự kiện. Một trường học tại Na Uy trao cho cậu giải thưởng danh dự trị giá hơn 2.000 USD. Các trang web gọi Jon là "người hùng bẻ khóa". Cô giáo thân yêu của Jon thì khích lệ: "Con hãy vươn lên cao nữa!"

Nhưng 9 ngày sau, cảnh sát Na Uy ập vào nhà Jon, tịch thu toàn bộ thiết bị vi tính và giải hai cha con về đồn thẩm vấn suốt 7 tiếng đồng hồ. MPAA quyết định khởi tố Jon. Nhóc Jon vẫn tỉnh bơ hợp tác với cảnh sát, thậm chí vui vẻ cung cấp password máy tính cho họ - cậu tin mình không làm gì phạm pháp. Năm 2002, Mr Johansen bị khởi tố với tội danh phá hủy hệ thống bảo mật của các công ty điện ảnh bằng cách rải chương trình bẻ khóa lên mạng. Tại kinh đô điện ảnh New York, các trùm Hollywood hè nhau lập hẳn một hội đồng, đệ trình những vi phạm của Jon lên tòa án Mỹ, nơi không khoan nhượng cho những kẻ vi phạm tác quyền.

Jon trở thành "tội phạm quốc tế" nhưng vẫn là anh hùng trong giới "võ lâm" châu Âu. Tháng 12/2002, một ban hội thẩm mở ra suốt 6 ngày. Mr Johansen, bấy giờ đã 18 tuổi, bình tĩnh giải thích "động cơ gây án" của mình. Phiên tòa được phát thanh trực tiếp toàn Na Uy, cả đất nước tạm dừng mọi hoạt động chỉ để nghe phán quyết về cậu bé tài năng của họ.

Cuối cùng, tòa kết luận: Jon đã chép lại các đĩa phim mà cậu đã bỏ tiền ra mua và điều đó không hề phạm pháp. Còn chuyện tung những mánh bẻ khóa lên mạng, người ta không tài nào tìm được những chứng cớ cụ thể để chứng minh "có ai đó đã sử dụng phần mềm của Jon để sao chép đĩa trái phép". Jon thắng kiện và trở thành tên tuổi lừng lẫy nhất trong giới công nghệ thông tin, một "ông tổ" của nghề "Cracker" với đủ mọi trường phái, động cơ ra đời từ những ngày ấy.

Trở lại với Mr Johansen của năm 2005. Ở tuổi 21, chàng thanh niên nổi tiếng chọn cho mình con đường "chính đạo" và quyết tâm lập nghiệp ngay giữa đất Mỹ - nơi diễn ra những kỷ niệm không mấy ngọt ngào 6 năm về trước. Chọn Hoa Kỳ làm bàn đạp để khởi đầu một chặng đường mới, chàng hacker vẫn còn quá trẻ đã tự tin mỉm cười: "Ở Mỹ, tôi sẽ chơi theo luật Mỹ!".
Theo Thanh Niên Online

Đọc tiếp >>

Hiệu trưởng phải đáp ứng được 23 tiêu chí

Bộ GD&ĐT vừa có quy định mới, hiệu trưởng trường THCS, trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học phải đáp ứng được ba tiêu chuẩn lớn với tổng cộng 23 tiêu chí.
Ba tiêu chuẩn gồm phẩm chất chính trị và đạo đức nghề nghiệp; năng lực chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm và năng lực quản lí nhà trường.
Về phẩm chất chính trị và đạo đức nghề nghiệp, hiệu trưởng phải gương mẫu chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng; hiểu biết và thực hiện đúng pháp luật; tích cực tham gia các hoạt động chính trị, xã hội; vượt khó.
Về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm, hiệu trưởng phải hiểu đúng, đủ mục tiêu, yêu cầu, nội dung, phương pháp giáo dục; đạt trình độ chuẩn được đào tạo của nhà giáo; nắm vững môn học nhận giảng dạy, có hiểu biết về các môn học khác; am hiểu về lí luận, nghiệp vụ và quản lý giáo dục.
Đặc biệt, hiệu trưởng phải sử dụng được một ngoại ngữ hoặc tiếng dân tộc (đối với hiệu trưởng công tác tại trường dân tộc nội trú, vùng cao, vùng dân tộc thiểu số) và sử dụng được công nghệ thông tin trong công việc...
Về năng lực quản lí nhà trường, hiệu trưởng phải có khả năng phân tích, dự báo; có tầm nhìn chiến lược; công khai mục tiêu, chương trình giáo dục, kết quả đánh giá chất lượng giáo dục và hệ thống văn bằng, chứng chỉ của nhà trường; quản lý tài chính minh bạch, hiệu quả; phát triển môi trường giáo dục...
Mặt khác, Bộ GD&ĐT cũng đưa ra những yêu cầu, xếp loại, quy trình đánh giá hiệu trưởng... trong quy định mới. Nếu hiệu trưởng có tổng điểm dưới 115 hoặc có tiêu chí 0 điểm, có tiêu chí trong các tiêu chuẩn 1 và 3 dưới 5 điểm thì chưa đạt chuẩn.
Sở GD&ĐT chịu trách nhiệm báo cáo kết quả đánh giá, xếp loại hiệu trưởng với UBND cấp tỉnh và Bộ GD&ĐT. Quy định mới này sẽ có hiệu lực thực hiện từ ngày 10/12/2009.

(nguồn Tiền phong Online)

Đọc tiếp >>

Tư Liệu Văn 1

CHUYÊN ĐỀ: NGUYỄN ÁI QUỐC – HỒ CHÍ MINH VÀ “TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP”
Chuyên đề này giúp các em có những kiến thức cơ bản và xử lí các dạng đề liên quan tới tác gia Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh và tác phẩm Tuyên ngôn độc lập.
Những đặc điểm nào trong cuộc đời đã ảnh hưởng tới sự nghiêp văn chương của Bác? Quan điểm sáng tác xuyên suốt các tác phẩm là gì? Phong cách nghệ thuật Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh có gì đặc biệt? Tại sao Tuyên ngôn độc lập được coi là một trong những tác phẩm chính luận xuất sắc?
(xem và download)
Khát quát văn học Việt Nam từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến hết thế kỉ XX
Chuyên đề này được biên soạn nhằm giúp các em học sinh có cái nhìn khái quát về diện mạo văn học Việt Nam từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945 đến hết thế kỉ XX.
Bối cảnh lịch sử, văn hóa, xã hội ảnh hưởng như thế nào đến văn học? Trong một bối cảnh như vậy, nền văn học đã diễn tiến ra sao? Đâu là những đặc điểm chung bao trùm mọi sáng tác phôi thai trong thời kì ấy? Các em sẽ có nền tảng thi pháp thời kì văn học để soi chiếu, đối sánh trong từng tác phẩm cụ thể.
(xem và download)
Nguyễn Đình Chiểu - Ngôi sao sáng trong bầu trời văn nghệ dân tộc
- Mục đích chuyên đề này giúp học sinh nắm được những kiến giải sâu sắc của Phạm Văn Đồng về thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, từ đó hiểu đúng đắn, sâu sắc hơn những giá trị thơ văn Nguyễn Đình Chiểu với thời đại ngày nay.
Chuyên đề cũng đồng thời hướng dẫn cách viết một bài văn nghị luận văn học.
(xem và download)
Chuyên đề Tây Tiến
- Chuyên đề này giúp các em nắm được những kiến thức cơ bản về bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng và xử lí các dạng đề liên quan.
Quang Dũng đã xây dựng thành công tượng đài người lính Tây Tiến vừa bi tráng vừa lãng mạn, vừa hào hùng vừa hào hoa trên nền bức tranh thiên nhiên miền Tây vừa dữ dội, hoang vu, hiểm trở vừa êm đềm, thơ mộng, trữ tình như thế nào?
Vì sao Tây Tiến được xem là một trong những bài thơ hay nhất của thơ ca kháng chiến chống Pháp nhưng lại có một “số phận” long đong đến như vậy?
(xem và download)
Chuyên đề Đất nước
- Chuyên đề này nhằm giúp các em củng cố các nội dung cơ bản xung quanh đoạn trích “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm.
- Những khám phá mới mẻ về Đất Nước
- Tư tưởng Đất Nước của Nhân dân.
- Chất triết lí, suy tưởng mang vẻ đẹp trí tuệ.
- Nghệ thuật sử dụng chất liệu văn hoá dân gian.
(xem và download)
Chuyên đề "Sóng"
Chuyên đề "Sóng"
- Chuyên đề giúp học sinh tiếp cận và phân tích một trong những bài thơ tình đặc sắc nhất của thơ ca Việt Nam nói chung và của nữ sĩ Xuân Quỳnh nói riêng.
Sóng và em có mối quan hệ như thế nào? Tâm hồn người phụ nữ đang yêu có những đặc điểm gì? Phải chăng thiên tính nữ là năng lượng bí ẩn tạo nên sức hấp dẫn cho toàn bộ thi phẩm?...
(xem và download)
Ôn luyện môn văn: Bài "Đàn ghi ta của Lor-ca"
- Chuyên đề này giúp học sinh củng cố các nội dung xung quanh bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca:
- Hình tượng tiếng đàn biểu trưng cho thế giới nghệ thuật Lor-ca, tinh thần Lor-ca.
- Niềm cảm thương và suy tư của Thanh Thảo trước sự hi sinh của một nghệ sĩ, chiến sĩ tiên phong.
- Nghệ thuật thơ mang màu sắc tượng trưng, siêu thực.
(xem và download)
Bài 'Tiếng hát con tàu'
- Chuyên đề này giúp các em nắm được những nội dung cơ bản xung quanh tác phẩm Tiếng hát con tàu: Ý nghĩa nhan đề và khổ đề từ; Mạch cảm hứng chủ đạo; Vẻ đẹp của một phong cách thơ trí tuệ, giàu chất suy tưởng.
(xem và download)
Nguyễn Tuân và Người lái đò Sông Đà
- Chuyên đề này nhằm củng cố các kiến thức xoay quanh tác giả Nguyễn Tuân và tuỳ bút “Người lái đò Sông Đà”.
- Đặc điểm con người Nguyễn Tuân. (Tại sao người ta cho rằng: Cái tôi của Nguyễn Tuân chính là một định nghĩa đích thực về nghệ sĩ?)
- Các chủ đề chính trong sáng tác.
- Phong cách nghệ thuật độc đáo và sự vận động của phong cách, từ đó rút ra bài học về sáng tạo.
- Hình tượng Sông Đà như một sinh thể sống động với những nét tính cách đối lập mà thống nhất: hung bạo, dữ dội, hùng vĩ nhưng cũng không kém dịu dàng, êm đềm, trữ tình.
- Hình tượng người lái đò Sông Đà dũng cảm, tài hoa, vừa là một dũng sĩ vừa là một nghệ sĩ trong nghệ thuât leo ghềnh vượt thác.
- Dấu ấn phong cách Nguyễn Tuân trong “Người lái đò Sông Đà”.
(xem và download)
Ai đặt tên cho dòng sông?
- Mục đích chuyên đề này nhằm giúp các em củng cố những kiến thức cơ bản xoay quanh tác phẩm “Ai đã đặt tên cho dòng sông”.
- Hình tượng dòng Hương qua cảm nhận độc đáo của nhà văn.
- Hình tượng nhân vật tôi nhạy cảm, giàu suy nghiệm.
- Phong cách tùy bút Hoàng Phủ Ngọc Tường.
(xem và download)
Chuyên đề "Vợ Nhặt"
- Mục đích chuyên đề giúp các em củng cố những nội dung cơ bản xung quanh tác phẩm “Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân.
- Ý nghĩa nhan đề và nghệ thuật xây dựng tình huống.
- Hình ảnh người nông dân Việt Nam trong bối cảnh làng quê ngày đói.
- Giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo độc đáo.
- Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế, sắc sảo.
- Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ đối thoại tài tình.
(xem và download)
Vợ chồng A Phủ
- Chuyên đề này nhằm giúp các em củng cố các vấn đề cơ bản xoay quanh tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” của nhà văn Tô Hoài.
- Nét độc đáo trong hình tượng nhân vật Mị.
- Nét độc đáo trong hình tượng nhân vật A Phủ.
- Giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo mới mẻ sâu sắc.
- Biệt tài miêu tả bức tranh thiên nhiên và sinh hoạt mang đậm màu sắc địa phương phong tục.
- Khả năng miêu tả diễn biến tâm lí tinh vi, sắc sảo.
(xem và download)
Rừng Xà Nu
- Chuyên đề này nhằm giúp học sinh củng cố những kiến thức cơ bản xung quanh tác phẩm “Rừng xà nu”:
- Hình tượng rừng xà nu - biểu tượng của vẻ đẹp nên thơ và sức sống bất diệt trong đau thương.
- Hình tượng Tnú – tiêu biểu cho các thế hệ người Tây Nguyên vùng lên chống Mĩ.
- Chất sử thi trong tác phẩm – in đậm dấu ấn thi pháp và mĩ học của văn thơ kháng chiến
(xem và download)
Chiếc thuyền ngoài xa
- Chuyên đề này nhằm giúp các em củng cố các vấn đề cơ bản xoay quanh tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa”.
- Tình huống nhận thức độc đáo
- Đổi mới trong cách nhìn hiện thực và con người của Nguyễn Minh Châu.
- Nghệ thuật tự sự đặc sắc.
(xem và download)
Một người Hà Nội
- Chuyên đề này giúp học sinh củng cố những kiến thức cơ bản xoay quanh tác phẩm “Một người Hà Nội” của nhà văn Nguyễn Khải.
- Hình tượng nhân vật cô Hiền tiêu biểu cho nét đẹp và sức sống bất diệt của văn hoá Hà thành.
- Cảm hứng triết luận - một trong những nét nổi bật trong phong cách nghệ thuật Nguyễn Khải.
- Nghệ thụât trần thuật và ngôn ngữ kể chuyện đặc sắc.
(xem và download)
Hồn Trương Ba, da hàng thịt
- Chuyên đề này nhằm giúp các em củng cố những vấn đề cơ bản về tác phẩm “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” của nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.
(xem và download)
Một số vấn đề khi làm văn nghị luận xã hội
- Chuyên đề này chủ yếu nhằm giúp các em củng cố cách làm bài văn nghị luận xã hội và tìm hiểu một số vấn đề thường gặp.(xem và download)
Một số vấn đề lí luận văn học
Chuyên đề này được thiết kế nhằm giúp học sinh củng cố những vấn đề lí luận văn học cơ bản liên quan tới các tác phẩm trong chương trình THPT.
(xem và download)
Văn học nước ngoài
Chuyên đề "Thuốc" của Lỗ Tấn; "Ông già và biển cả" của Hemingway; "Số phận con người" của Sô-lô-khốp.(xem và download)
Còn tiếp

Đọc tiếp >>

Định Lý Lớn Fermat

Pierre de Fermat   
  Pierre de Fermat (1601-1665) là một luật sư đồng thời là một nhà toán học nghiệp dư người Pháp. Ông là một nhà toán học nghiệp dư vì ban ngày ông phải làm việc của một luật sư. Vào nửa đầu thế kỷ XX, nhà nghiên cứu lịch sử toán học nổi tiếng E.T. Bell đã hóm hỉnh gọi Fermat là "Hoàng tử của những người nghiệp dư". Bell cho rằng Fermat đã đạt được nhiều thành tựu toán học quan trọng hơn hầu hết các nhà toán học "chuyên nghiệp" cùng thời với ông. Bell đánh giá Fermat là một nhà toán học đặc thù nhất ở thế kỷ XVII, thế kỷ đã ghi nhận thành tựu của một vài thiên tài trong số những thiên tài toán học vĩ đại nhất của mọi thời đại

Một trong những thành tựu kinh ngạc nhất của Fermat là việc ông đã phát triển các tư tưởng cơ bản của môn giải tích, điều mà ông đã làm trước khi Issac Newton ra đời 13 năm. Lịch sử nhân loại đã ghi nhận Newton và Gottfried Wilhelm von Leibniz, người cùng thời với ông, là những người đã tìm ra lý thuyết toán học của chuyển động, gia tốc, lực, quỹ đạo, và nhiều khái niệm toán học ứng dụng khác về sự thay đổi liên tục mà chúng ta gọi là các phép toán giải tích.     Fermat rất say mê các công trình toán học của người Hy Lạp cổ đại. Có khả năng chính các công trình của các nhà toán học Hy Lạp cổ đại là Archimedes (thế kỷ III trước Công nguyên) và Eudoxus (thế kỷ IV trước Công nguyên ) đã gợi ý cho Fermat xây dựng khái niệm các phép toán giải tích. Bấtkỳ lúc nào có thời gian là Fermat nghiên cứu các công trình toán học cổ mà vào thời ông người ta đã dịch sang tiếng Latinh. Ông hoàn thành công việc chính của một luật sư có uy tín, nhưng sở thích của ông, niềm say mê của ông là cố gắng tổng quát hóa các công trình toán học cổ điển và tìm ra nét đẹp mới trong kho tàng các phát minh đã bị chôn vùi rất lâu rồi. "Tôi đã tìm được rất nhiều định lý đẹp vô cùng", có lần ông đã nói như vậy. Ông ghi vội những định lý này vào lề bản dịch những cuốn sách cổ mà ông có.  
  Fermat là con trai của một nhà buôn đồ da, ông Dominique Fermat, người từng là phó quan tổng tài của một thị trấn thuộc tỉnh Beaumont-de-Lomagne. Mẹ ông là bà Claire de Long, con gái một gia đình luật gia quyền quý. Cậu bé Fermat ra đời tháng 8 năm 1601 (Lễ đặt tên Chúa vào ngày 20 tháng 8 ở Beaumont-de-Lomagne), và được cha mẹ nuôi dưỡng để trở thành một quan tòa. Ông học ở Toulouse, và ngay tại thành phố này, vào năm 30 tuổi ông đã được bầu làm ủy viên công tố. Cũng vào năm 1631 đó ông cưới Louise Long, người em họ về đằng ngoại. Vợ chồng ông có được 3 người con trai và 2 người con gái. Sau khi Fermat qua đời, Clement Samuel - con trai ông, làm theo di chúc của Fermat, đã xuất bản các công trình của cha mình. Chính nhờ cuốn sách này mà chúng ta biết được định lý cuối cùng nổi tiếng của Fermat. Clement Samuel de Fermat đã nhận thấy tầm quan trọng của định lý được viết nguệch ngoạc ở bên lề sách và trong lần tái bản tuyển tập các công trình cổông đã bổ sung thêm vào đó định lý này.     Fermat sống một cuộc đời trầm lãng, ổn định và bình yên. Ông làm việc với lòng tự trọng và chân thực. Vào năm 1648 ông đã được tiến cử giữ một vị trí quan trọng - ủy viên Hội đồng tư vấn của Nghị viện Toulouse và giữ tước hiệu này suốt 17 năm cho đến khi ông qua đời năm 1665. Đánh giá công lao to lớn mà Fermat đã cống hiến cho triều đình, một cuộc đời tận tụy, đầy sáng tạo và có ích cho khoa học, nhiều sử gia đã sửng sốt không hiểu ông lấy đâu ra thời gian và trí lực để làm toán học cao cấp và đã làm rất thành công như vậy. Một chuyên gia Pháp cho rằng việc làm công chức của Fermat là vốn quý cho việc nghiên cứu toán học của ông bởi vì những người làm ở Nghị viện Pháp phải giảm thiểu các cuộc tiếp xúc không chính thức để tránh sự mua chuộc và các tệ nạn tham nhũng. Từ đó Fermat nảy sinh ý muốn quên đi cái công việc nặng nề của mình và đồng thời vì ông phải hạn chế mình trong tiếp xúc xã hội, toán học có thể là cách giúp ông thoát ra khỏi công việc rất tốt. Các ý tưởng về giải tích không phải là thành tựu duy nhất của Fermat. Ông đã mang đến cho chúng ta cả Lý thuyết số. Một yếu tố quan trọng của Lý thuyết số là khái niệm số nguyên tố.
Các số nguyên tố   
  Các số 2, 3 là các số nguyên tố. Số 4 không phải là nguyên tố vì nó là tích của 2x2 = 4. Số 5 là số nguyên tố. Số 6 không phải là số nguyên tố vì, giống như 4, nó là tích của hai số 2x3 = 6. Số 7 là số nguyên tố, số 8 không phải vì 2x2x2 = 8, số 9 không phải vì 3x3 = 9, và số 10 cũng không phải vì 2x5 = 10. Nhưng số 11 lại là số nguyên tố vì không có các số nguyên (khác với chính 11 và 1) mà tích của chúng bằng 11. Và ta có thể tiếp tục quá trình này: 12 không phải là số nguyên tố, 13 là số nguyên tố, 14 không phải là số nguyên tố, 15 không phải là số nguyên tố, 16 không phải là số nguyên tố, 17 là số nguyên tố, và v.v... Ở đây không có một quy luật rõ ràng nào, ví dụ như mọi số thứ tư không phải là số nguyên tố chẳng hạn, hay thậm chí một cấu trúc lặp lại phức tạp nào đó cũng không có. Khái niệm số nguyên tố là một điều bí ẩn lớn đối với con người từ rất xa xưa. Số nguyên tố là thành phần cơ bản trong Lý thuyết số và việc không có dấu hiệu dễ nhận biết số nguyên tố làm cho Lý thuyết số trở thành một lĩnh vực khá đa dạng và phong phú, các bài toán về lĩnh vực Lý thuyết số chẳng có gì chung, rất khó giải và không có liên hệ rõ ràng với các lĩnh vực toán học khác. Theo cách nói của Barry Mazur thì "Lý thuyết số dễ dàng đặt ra vô số bài toán mà bao quanh chúng là một bầu không khí trinh nguyên và dịu ngọt, là những bông hoa đầy quyến rũ; và còn nữa... Lý thuyết số cũng chứa đầy sâu bọ đang rình rập để cắn vào ai đắm say những bông hoa đầy hương sắc, và người nào đã một lần bị cắn càng cố gắng hết sức để đạt được mong muốn của mình"
Một dòng ghi chú nổi tiếng trên lề sách  
  Fermat như bị mê hoặc trước sự quyến rũ của những con số. Ông tìm thấy cái đẹp và ý nghĩa ở các con số. Trong Lý thuyết số, ông đã nêu lên một số định lý, trong đó có một định lý nói rằng mọi số có dạng 2(2 lũy thừa n) +1 (2 nâng lên lũy thừa hai mũ n, cộng 1) là một số nguyên tố. Sau này người ta phát hiện là định lý sai vì có một số số có dạng như vừa nêu nhưng không phải là số nguyên tố.         Trong số những bản dịch các tác phẩm cổ điển ra tiếng Latinh mà Fermat yêu quý có cuốn Số học (Arithmetica) của nhà toán học Hy Lạp Diophantus sống ở Alexandria vào thế kỷ III. Vào khoảng năm 1637, Fermat đã viết trên lề cuốn sách này, ngay cạnh bài toán phân tích một số chính phương thành tổng của hai số chính phương, mấy dòng chữ Latinh:    
"Mặt khác, không thể phân tích một lập phương thành tổng của hai lập phương, hoặc một trùng phương thành tổng của hai trùng phương, hay - một cách tổng quát - bất kỳ một lũy thừa nào khác 2 thành tổng của hai lũy thừa cùng bậc. Tôi đã tìm được một chứng minh thật tuyệt diệu cho nhận xét này, nhưng đáng tiếc lề sách không đủ rộng để ghi ra đây."
Điều khẳng định bí ẩn trên đã làm cho nhiều thế hệ các nhà toán học phải cố gắng hết sức để đưa ra "một chứng minh thật tuyệt diệu"- điều mà Fermat khẳng định là đã hoàn tất. Nội dung của mệnh đề thoạt nhìn tưởng đơn giản đó là: trong khi bình phương của một số số nguyên có thể phân tích thành tổng hai bình phương của các số nguyên khác (ví dụ, 5 bình phương (25) bằng tổng của 4 bình phương (16) và 3 bình phương (9)), nhưng điều tương tự không xảy ra đối với lập phương của một số nguyên hay các lũy thừa bậc cao hơn. Trong những năm đầu thế kỷ XIX, tất cả các định lý khác của Fermat hoặc đã được chứng minh hoặc đã bị bác bỏ. Mệnh đề tưởng như đơn giản trên đây vẫn chưa chứng minh hoặc bác bỏ được, và vì vậy người ta đặt cho nó tên gọi "Định lý cuối cùng của Fermat". Định lý đó có đúng không? Thậm chí trong thế kỷ của chúng ta, máy tính đã được huy động để cố gắng kiểm tra tính đúng đắn của định lý này. Máy tính có thể kiểm tra định lý đối với các số rất lớn, nhưng nó không thể làm với tất cả các số. Định lý này có thể được thử với hàng tỷ con số, nhưng sẽ vẫn còn nhiều vô hạn số - và nhiều vô hạn các lũy thừa - phải kiểm tra. Để khẳng định tính đúng đắn của Định lý cuối cùng của Fermat cần phải có một chứng minh toán học chặt chẽ. Vào đầu thế kỷ XIX các Viện hàn lâm khoa học Đức và Pháp đã đưa ra các giải thưởng cho bất kỳ ai tìm được phép chứng minh và mỗi năm hàng nghìn nhà toán học, những người làm toán nghiệp dư và cũng có cả những người lập dị, đã gửi "các chứng minh" về tòa soạn các tạp chí toán học và các hội đồng giám khảo. Tuy vậy, tất cả vẫn là con số không.  
   Tháng 7, 8/l993 - Phát hiện một kẽ hở quan trọng Các nhà toán học đã lạc quan một cách thận trọng khi mà Wiles rời khỏi bục báo cáo vào cái ngày Thứ Tư của Tháng Sáu ấy. Cuối cùng thì một vấn đề nan giải hơn 350 năm nay dường như đã được giải quyết. Sử dụng các lý thuyết và các khái niệm toán học phức tạp - những công cụ toán học chưa có ở thời Fermat và thậm chí là cho đến tận thế kỷ XX mới có

- Wiles đã đưa ra một chứng minh dài đòi hỏi sự đánh giá của nhiều chuyên gia khác nhau. Chứng minh này đã được gửi đến một số nhà toán học đầu đàn. Có lẽ 7 năm làm việc đơn độc trong căn gác xép khuất nẻo của Wiles đã có kết quả rồi. Nhưng sự lạc quan chẳng kéo dài được bao lâu. Mấy tuần sau, một kẽ hở trong logic chứng minh của Wiles đã bị phát hiện. Wiles cố gắng lấp đi kẽ hở này, nhưng kẽ hở vẫn cứ trơ ra đó. Nhà toán học của thành phố Princeton là Peter Sarnak, bạn thân của Andrew Wiles, đã chứng kiến hàng ngày Wiles đánh vật với phép chứng minh mà mới 2 tháng trước tại Camhridge, ông đã công bố với cả thế giới rằng ông đã hoàn tất. "Cứ như thể là Andrew đang cố trườn lên tường, thế là anh ấy lại phải bước tới kéo nó xuống... nhưng rồi nó lại phồng lên ở chỗ khác. Việc tấm thảm có cỡ đúng với kích thước của căn phòng không thì anh không thể xác định được". Wiles lại lánh vào căn gác xép của mình. Các phóng viên của tờ Thời báo New York và phương tiện thông tin đại chúng đã để yên cho ông trở lại với công việc đơn độc của mình. Khi thời gian cứ dần trôi đi mà chưa tìm được cách khắc phục kẽ hở trong chứng minh, các nhà toán học và công chúng nói chung lại bắt đầu tự hỏi không biết Định lý cuối cùng của Fermat có hoàn toàn đúng hay không. Chứng minh tuyệt diệu mà Giáo sư Wiles đã trình bày để thuyết phục cả thế giới cũng chẳng mang lại điều gì cụ thể hơn chính những dòng chữ của Fermat: "Chứng minh thật tuyệt diệu nhưng đáng tiếc lề sách không đủ rộng để ghi ra đây."
Khoảng giữa sông Tigris và sông Euphrates, Circa, 2000 năm trước Công nguyên.    
Câu chuyện về Định lý cuối cùng của Fermat là câu chuyện cổ, cổ hơn chính cả Fermat nhiều. Thậm chí nó còn cổ xưa hơn cả Diophantus - người có các công trình mà Fermat đã cố gắng tổng quát hóa. Gốc gác của cái định lý có vẻ đơn giản mà lại rất sâu sắc này cũng lâu đời như chính nền văn minh của loài người. Nguồn gốc của định lý có từ thời đại văn hóa đồ đồng, một nền văn hóa đã rất phát triển ở vùng Fertile Crescent nằm giữa hai con sông Tigris và sông Euphrates của Babylon cổ đại (phần lãnh thổ nay thuộc Irắc). Khi mà Định lý cuối cùng của Fermat còn là một khẳng định trừu tượng chẳng có ứng dụng gì trong khoa học, kỹ thuật, toán học, thậm chí ngay cả trong Lý thuyết số là nơi thích hợp nhất với định lý này, thì cội nguồn của nó đã được hình thành từ 2000 năm trước Công nguyên trong đời sống hàng ngày của người dân Mesopotamia.     Ở thung lũng Mesopotamia, thời kỳ từ năm 2000 đến năm 600 trước Công nguyên được xem là thời đại của người Babylon. Thời kỳ này đã chứng kiến sự phát triển rực rỡ của một nền văn hóa, bao gồm chữ viết, việc sử dụng các bánh xe và phát triển nghề luyện kim. Một hệ thống kênh đào đã được sử dụng để tưới tiêu cho những vùng đất rộng lớn nằm giữa hai con sông. Khi nền văn minh ở thung lũng màu mỡ của Babylon đã phát triển phồn thịnh, những người
Cổ Đại sống ở đây học cách buôn bán và xây dựng những thành phố sầm uất như Babylon và Ur (nơi sinh của Abraham). Thậm chí sớm hơn nữa, vào cuối thiên niên kỷ IV trước Công nguyên, chữ viết thô sơ đã được phát minh ra ở thung lũng Mesopotamia và cả ở thung lũng sông Nile. Ở Mesopotamia có rất nhiều đất sét và nhiều dấu vết hình cái nêm đã được khắc sâu vào những viên gạch đất sét mềm bằng bút trâm (dùng ở thời cổ). Sau đó người ta nung những viên gạch đó trong lò hoặc phơi nắng cho nó khô cứng lại. Dạng chữ viết như thế được gọi là chữ hình nêm (cuneiform). Tên gọi này có gốc từ chữ Latinh cuneus - nghĩa là cái nêm. Chữ hình nêm là kiểu chữ viết đầu tiên trên thế giới. Ngành thương mại và ngành xây dựng ở Babylon và Ai Cập cổ đại đã đòi hỏi phải có phương pháp đo lường chính xác. Các nhà khoa học đầu tiên của các xã hội thời đại đồ đồng đã nghiên cứu cách ước lượng tỷ lệ giữa chu vi và đường kính của một hình tròn và họ đã tìm ra một số gần giống với số mà ngày nay ta gọi là số pi. Những người đã từng xây dựng công trình Ziggurat khổng lồ, tháp nhà thờ Babel và Khu vườn treo - một trong bảy kỳ
Sự giàu có là một đại lượng bình phương     Một hệ thống số phức tạp đã được phát triển trên cơ số 60. Các kỹ sư và các nhà xây dựng người Babylon đã có thể tính toán các khối lượng cần thiết cho công việc hàng ngày của họ. Số bình phương xuất hiện một cách tự nhiên trong cuộc sống, mặc dù vậy ngay từ cái nhìn đầu tiên thì không hẳn là như thế. Việc bình phương các con số có thể được xem như là cách biểu đạt sự giàu có. Sự thịnh vượng của người nông dân phụ thuộc vào tổng số hoa màu mà anh ta có thể sản xuất ra. Thế rồi số hoa màu đó, đến lượt mình, lại phụ thuộc vào diện tích trồng trọt mà người nông dân có. Diện tích là tích số của chiều dài và chiều rộng của thửa ruộng, và đây là chỗ dẫn tới phép bình phương. Một thửa ruộng mà có chiều dài và chiều rộng cùng bằng a thì có diện tích bằng a^2. Do vậy, theo ý nghĩa này thì sự giàu có là một đại lượng bình phương.
Những người Babylon cũng muốn biết khi nào thì bình phương của một số nguyên có thể phân tích thành tổng bình phương của các số nguyên khác. Một người nông dân, làm chủ một thửa ruộng rộng 25 đơn vị vuông có thể đổi nó lấy hai mảnh ruộng hình vuông: một mảnh rộng 16 đơn vị vuông còn mảnh kia rộng 9 đơn vị vuông. Vậy một mảnh ruộng rộng 5 đơn vị x 5 đơn vị tương đương với hai mảnh - một mảnh rộng 4 đơn vị x 4 đơn vị và mảnh kia rộng 3 đơn vị x 3 đơn vị. Đây là thông tin quan trọng cho việc giải quyết một bài toán thực tế. Ngày nay ta trình bày mối quan hệ này dưới dạng đẳng thức : 52 = 42 + 32. Và các bộ ba những số nguyên như thế - ở đây nói riêng là 3, 4 và 5 - mà các bình phương của chúng thỏa mãn hệ thức trên, được gọi là các bộ ba Pythagoras - mặc dù người Babylon biết những bộ số như thế từ hàng ngàn năm trước thời đại của nhà toán học Hy tạp nổi tiếng Pythagoras, nhưng tên của ông vẫn được lấy để đặt cho các bộ ba số nguyên đó. Chúng ta biết được điều này từ một viên gạch đất sét đặc biệt có niên đại khoảng 1900 năm trước Công nguyên.
"Plimpton 322"   
  Những người Babylon đã để tâm tới các bảng biểu. Tận dụng nguồn đất sét phong phú và kỹ thuật viết chữ hình nêm, họ đã tạo nên rất nhiều bảng biểu. Ngày nay vẫn còn nhiều bảng biểu đó vì các viên gạch bằng đất sét rất bền. Chỉ riêng tại nơi ở của người Nippur cổ đại người ta đã tìm thấy hơn 50.000 viên và hiện đang được trưng bày thành các bộ sưu tập trong các bảo tàng ở Yale, Columbia, ở Trường Đại học Tổng hợp Pennsylvania và ở nhiều nơi khác. Rất nhiều viên gạch như thế bám đầy bụi bặm đang nằm dưới tầng hầm của các viện bảo tàng, chưa được đọc đến và cũng chưa được giải mã.     Có một viên gạch đã giải mã được và rất đáng chú ý. Viên gạch này thuộc bảo tàng của Trường Đại học Tổng hợp Columbia và nó có tên là Plimpton 322. Trên viên gạch đó có 15 bộ ba các con số. Mỗi bộ ba có tính chất như sau: số thứ nhất là một số chính phương và là tổng của hai số còn lại mà mỗi số cũng là một số chính phương. Bảng này có 15 bộ ba Pythagoras . Các số 25 = 16+9 đã được nêu ở phần trên là một bộ ba Pythagoras. Trên viên gạch Plimpton 322 có một bộ ba Pythagoras khác là : 169 = 144 + 25 (tức là 13 2 = 122 + 52). Không phải tất cả các học giả đều đồng ý với cách lý giải về sự quan tâm của người Babylon cổ đại đối với các số đó. Có thuyết cho rằng sự quan tâm này chỉ nhằm mục đích thực tế và quả là thực tế họ đã sử dụng hệ thống số với cơ số 60, vì vậy họ đã thường chọn dùng các số nguyên hơn là các phân số để giải các bài toán thực tế với các số nguyên chính phương.
Nhưng các nhà chuyên môn khác thì cho rằng các con số vốn có cái thú vị riêng mà chính chúng có thể là động lực khiến người Babylon chú ý đến các số chính phương. Có điều, cho dù là vì lý do gì đi nữa thì Plimplon 322 vẫn có thể dùng làm công cụ để dạy sinh viên giải các bài toán trong đó các con số là các số chính phương.
Phương pháp của người Babylon không nhằm phát triển một lý thuyết tổng quát để giải các bài toán như thế, mà đúng hơn là cung cấp các bảng liệt kê bộ ba số để dạy học sinh đọc và sử dụng các bảng đó.
(còn tiếp )(nguồn Internet)

Đọc tiếp >>

Đâu phải bởi tại em

Đâu phải bởi tại em!
Hiệu trưởng gọi bảo vệ lên phòng nói:
-Tôi đã kêu anh viết một tấm bảng để trước cổng đề là:
"Cấm trâu bò vào cổng" ,tại sao bò vào đầy trường vậy?
Bảo vệ - dạ! thì em đã làm theo ý anh rồi ,nhưng có con nào nó chịu đọc đâu!?



Bố ơi cho con hát
Có một cô dạy lớp mẫu giáo, thỉnh thoảng có bạn trai đến lớp thăm, sợ các học trò nhỏ vô
tư nói năng "mất lịch sự ", cô bèn dặn các cháu :
- Hễ khi nào cô đang nói chuyện với người lớn, cháu nào muốn xin ra ngoài đi
tiểu hay đi đại tiện thì phải nói: " Thưa cô, cho cháu đi hát " nghe không ?
Thế là các học trò nhí tuân theo lời cô dạy. Lâu dần thành thói quen, có khách đến
là các trò chạy ra: " Thưa cô, cho cháu đi hát...".
Có cu Tí học lớp cô giáo, chủ nhật nghỉ ở nhà với bố, nửa đêm cu Tí gọi bố dậy,
quen mồm nói:
- Bố ơi, con muốn đi hát!
Bố giật mình, nhưng cũng nghiêng tai vào mạng cu Tí và bảo :
- Hát hả? Con hát vào đây cho bố nghe.
Cái sức khoẻ của tôi đang nấu cơm dưới bếp ấy!
Có một anh sinh viên đến nhà người yêu, không may hôm đó, cha cô gái ra mở cửa. Anh chàng nhanh nhảu:
- Cháu chào bác ạ! Thưa bác, cháu đến hỏi thăm sức khoẻ của hai bác!
- Không dám! Cái sức khoẻ của tôi đang nấu cơm dưới bếp ấy!
Đừng dọa chứ
Trong một buổi thi vấn đáp Lịch sử:
- Anh hãy cho biết, Lê lợi là ai?
+Dạ, em không biết.
- Thế anh có biết, Trần Hưng Đạo là ai không?
+Dạ, em không biết.
- Thôi, nếu anh trả lời được câu này, tôi sẽ cho anh qua, anh có biết Trưng Trắc, Trưng nhị là ai không?
+ Dạ em cũng không biết.
- Vậy thì mời anh ra, tôi không thể cho anh qua được.
+ Thế thầy có biết Hùng móm, Minh sẹo, Phúc bồ, là ai không?
- Hả???
+ Thầy có băng của thầy , em cũng có băng của em chứ, thầy đừng đem băng của thầy ra dọa em nhé.....
Dấu đầu lòi đuôi
HS: Cô đã dặn là các em không được gọi nhau bằng tên tếu mà vẫn có bạn cứ gọi nhau như thế đấy ạ.
Cô: Bạn nào thế?
HS: Thưa cô, đó là bạn Thanh tồ, Tư sếu vườn và cả bạn Đức tẹt nữa ạ.
Diệu Kế
Để tăng diện tích đất canh tác, các cụ trong làng bèn họp nhau lại tìm phương sách.
Qua 2 ngày chẳng ai nghĩ ra được kế gì. Sang ngày thứ 3, một cụ cao tuổi nhất bỗng vỗ
đùi nói :
- Tôi có một kế này các cụ nghe xem sao : các cụ có biết cái hồ rộng 800 mẫu ở
đằng sau làng không.Nếu chúng ta lấp được cái hồ đó thì sẽ có 800 mẫu ruộng canh tác.
Các cụ khác nhao nhao :
- Nhưng lấy đâu ra đất để lấp cái hồ đó ?
Cụ nghĩ ra kế lấp hồ nói :
- Khoét 800 mẫu ruộng ở bên cạnh hồ để lấy đất lấp !!!
Toàn thể các cụ vụt đồng thanh hô to : " Diệu Kế ! - Diệu Kế ! "
Tại tụi nó
Bệnh nhân mắc bệnh hoang tưởng, nghĩ mình là sâu nên rất sợ gà ăn thịt mình. Sau khi điều trị, bác sĩ cho ra viện và dặn:
- Anh là người đàng hoàng không phaỉ sâu bọ việc gì sợ mấy con gà!
- Tôi cũng biết thế. Khổ nỗi bọn gà ngu xuẩn kia có ai điều trị cho nó đâu, nên nó vẫn nghĩ tôi là sâu.

Đọc tiếp >>

Kỹ Thuật Cauchy Bất Đối

Hsmath.net giới thiệu bài viết :Kỹ Thuật Cauchy Bất Đối (nguồn Internet)


Tải bài viết tại đây (download)

Đọc tiếp >>

Ôn Tập Hình Không Gian

hsmath.net giới thiệu :



Tải tài liệu tại đây:(download)

Đọc tiếp >>

20 kỹ thuật ghi nhớ trong học tập

20 kỹ thuật ghi nhớ trong học tập
1. Học từ tổng quát đến cụ thể
Trước khi bắt đầu đọc, nên lướt qua để lấy ý chính. Bạn có thể hỏi một ngườI nào đó đã đọc xong nhanh hơn để kiểm tra lại. Kỹ năng này sẽ thích hợp nhất khi bạn đọc hiểu một đoạn văn. Nếu vẫn chưa hiểu, hãy đọc lại một lần nữa. Từng chi tiết sẽ có thể sáng tỏ hơn.
2. Hiểu
Bạn phảI biết rõ mình học để đạt được gì? Sau đó tìm kiếm mốI liên hệ giữa cái bạn cần và cái bạn đang học.
Nếu việc học có thể cung cấp cho bạn những thông tin mà bạn cần thì bạn sẽ rất dễ dàng ghi nhớ nó. Đó là một trong những lý do tạI sao phảI làm rõ những gì bạn mong muốn.
3. Sắp xếp dữ liệu
Những dữ liệu bạn đã ghi nhớ được sắp xếp theo một trật tự mà bạn cho là hợp lý. Khi có thêm dữ liệu mớI, bạn sẽ dễ dàng ghi nhớ nếu bạn sắp xếp nó gần vớI những dữ liệu tương tự hoặc có liên quan.

4. Học đi đôi với hành,học tập trung
Thực hành là một cách ghi nhớ rất tốt. Bạn có thể sử dụng những phương pháp trực tiếp, đơn giản để chuyển những gì được học thành thực tiễn.
Học lý thuyết suông có thể dễ không đúng với thực tế lắm. Đặc biệt càng lên cao, môi trường học sẽ càng bị động. Sinh viên chỉ ngồi lắng nghe, im lặng, và thờ ơ. Bạn không nên bị động như vậy! Học như vậy sẽ tốn năng lượng. Chẳng thà bạn cứ ngồi vào bàn và đọc sách còn hiệu quả hơn.
5. Thư giãn
Ở trạng thái thư giãn, bạn sẽ hấp thụ thông tin mớI rất nhanh chóng và nhớ nó một cách chính xác và thoảI mái. Thư giãn không có nghĩa là buồn ngủ, uể oải. Đó là trạng thái hoàn toàn tỉnh táo, tự do, thoảI mái.
6. Sử dụng hình ảnh
Vẽ những bức tranh ngộ nghĩnh, biểu đồ,…những hình ảnh này có thể minh hoạ cho những thuật ngữ trừu tượng và rất dễ nhớ. Quan trọng là bạn phảI sử dụng được trí tưởng tượng của mình.
Ngoài ra, việc tạo những hình ảnh chính là cơ hộI để bạn có thể ghi nhớ thông tin đó thêm một lần nữa.
7. Lặp lại
Khi bạn lặp lạI một điều gì đó thật to, bạn đã nắm được khái niệm của nó theo 2 cách khác nhau. Thứ nhất, bạn đã ghi nhận và diễn đạt được nó thông qua lưỡI và miệng. Thứ hai, bạn đã lắng nghe nó thêm một lần nữa.
Lặp lạI là một kỹ thuật rất quan trọng khi ghi nhớ. Nó chỉ được phát huy tốt nhất nếu bạn lặp lạI theo chính ngôn ngữ của bạn.
8. Viết
Kỹ thuật này rất rõ ràng. bạn có thể mở rộng bằng cách không chỉ viết một lần mà có thể nhiều lần. Lựa chọn những từ ngữ cần phảI nhớ và viết đi viết lạI nhiều lần là một kỹ thuật ghi nhớ hiệu quả. Khi viết, bạn sẽ có ý thức làm sao để viết mạch lạc, logic và hoàn chỉnh. Thông qua các bộ phận của cơ thể như cách tay, bàn tay, ngón tay, bạn sẽ dễ dàng ghi nhớ những gì mình đã viết.
9. Hạn chế ôm đồm nhiều việc cùng một lúc

Chỉ chú tâm làm một công việc vào một thời điểm, bạn sẽ ghi nhớ nó lâu hơn.
10. Học
Một cách để bạn nâng cao trí tuệ của mình là bạn cần phảI học nhiều hơn những gì bạn mong muốn đạt được chỉ để vượt qua kỳ thi.
11. Bỏ thói quen "học tạm thời, nhớ ngắn hạn"
Cách học này nhằm đốI phó vớI các kỳ thi, nhưng sau này nó sẽ chẳng đem lạI cho bạn kiến thức gì cả.
12. Dùng ánh nắng ban ngày
Nhiều ngườI có thể tập trung làm việc rất hiệu quả vào ban ngày.
13. Cách học
Bạn sẽ thấy rằng nếu học nhiều môn vớI thờI gian học ngắn sẽ hiệu quả hơn rất nhiều so vớI việc chỉ nhồI nhét một môn trong vòng 6 tiếng đồng hồ. Với cách học thứ nhất, bạn có thể nghỉ giảI lao trước khi chuyển sang học môn khác.
14. Thái độ học tích cực

Nếu bạn muốn học nhanh chóng và ghi nhớ lâu, bạn phảI tạo được niềm hứng thú khi học.
15. Chọn lọc những gì cần phảI ghi nhớ
Đối vớI những kiến thức cần thiết để ghi nhớ, bạn sẽ áp dụng những kỹ thuật trên để lưu vào bộ nhớ. Không nên bắt bản thân mình phải nhớ hết mọi thứ!
16. Kết hợp những kỹ thuật ghi nhớ
Mỗi kỹ thuật có điểm hay riêng, bạn nên kết hợp chúng với nhau.
17. Liên tưởng

Khi bạn bị bế tắc và không thể nhớ ra một vấn đề mà bạn biết chắc chắn, hãy nghĩ đến vấn đề khác liên quan đến nó.
18. Lưu lại các cách ghi nhớ
Mỗi ngườI có một cách nhớ riêng. Để phát triển khả năng ghi nhớ của bản thân, bạn nên tập thói quen xác định kỹ thuật ghi nhớ nào mà bạn đã sử dụng. Nên kết hợp thực tiễn vớI những gì bạn muốn ghi nhớ. Và hãy tự chúc mừng nếu bạn thành công nhé!
19. Hãy thường xuyên lục lại bộ nhớ
Kiến thức mà bạn đã ghi nhớ sẽ dễ dàng mất đi nếu bạn không thường xuyên nhắc lại.
Quan điểm này hướng đến một kỹ thuật ghi nhớ, đó là: hãy nhớ kỹ một điều gì đó, bạn sẽ thành công.
20. Và cố gắng nhớ lại, đừng bao giờ quên.
Đây là nguyên tắc đồng thờI là kỹ thuật quan trọng nhất.
Bạn hãy tập thói quen, trước khi muốn ghi nhớ điều gì, nên tự nhắc nhở mình rằng:”tôi không bao giờ quên việc gì cả, có lẽ tôi sẽ gặp khó khăn khi muốn nhắc lạI một điều gì đó nhưng tôi biết tôi đặt nó ở đâu trong bộ nhớ của mình

Đọc tiếp >>

Nghề viết sách giáo khoa

Một nghề không có trường lớp đào tạo
Viết sách giáo khoa (SGK) là một nghề, nhưng ở nước ta không hề có trường lớp nào đào tạo ra những người làm nghề đó. Ở nhiều nước, trường Giáo dục (Colege of Education) không chỉ đào tạo giáo viên mà còn đào tạo các loại cán bộ làm công tác giáo dục như : người soạn chương trình, người viết SGK, người ra đề thi, người quản lí giáo dục…
Năm 1955, hệ thống giáo dục phổ thông 10 năm được thực hiện ở miền Bắc, và lần đầu tiên chúng ta có một bộ SGK. Một số giáo viên có kinh nghiệm dạy học được tập hợp thành Ban tu thư để trong vòng 4 hay 5 tháng phải soạn cho xong bộ SGK đó… Nói là "soạn", nhưng hầu hết SGK của các môn khoa học tự nhiên đều là dịch hầu như nguyên si từ tiếng Nga sang tiếng Việt.
Năm 1979, chúng ta thực hiện hệ thống giáo dục phổ thông 12 năm trên toàn quốc, và SGK phải viết lại cho phù hợp với chương trình mới. Một số khá đông nhà sư phạm được huy động để làm SGK, mà lần này là phải "biên soạn" một cách thực sự, cố nhiên có sự tham khảo SGK của các nước trên thế giới…
Năm học này, chúng ta thực hiện một chương trình mới cho giáo dục phổ thông nhằm phục vụ cho việc phân ban ở bậc THPT có kết hợp với các môn học tự chọn. Và tất nhiên SGK lại phải thay đổi cho phù hợp chương trình mới. Tuy nhiên lần này, SGK có nhiều thay đổi lớn về nhiều mặt (nội dung, phương pháp trình bày, cấu trúc…) nhằm hỗ trợ cho việc cải tiến phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh. Và lần này các tác giả SGk lại phải t
hiểu, nghiên cứu, học tập thêm để có thể hoàn thành nhiệm vụ khó khăn của mình…
Ai là tác giả SGK ?
Như vậy chúng ta hiện nay chưa có trường đào tạo nghề viết SGK. Làm thế nào bây giờ ? Đành phải chọn những người có nghề nghiệp gần với nghề viết SGK để mà làm SGK. Đó là những thầy giáo có kinh nghiệm ở Đại học hay phổ thông, những người có chuyên môn sâu, những nhà tâm lí, những chuyên gia về giáo học pháp… Từ trước đến nay tác giả SGK phần lớn là các thầy giáo. Như thế là hợp lí, và chắc là từ nay về sau cũng thế.

Tôi có nghe thấy ở một kỳ họp Quốc hôi, một nhà khoa học lớn đã chất vấn rằng tại sao không để ông ta viết SGK ? Thực ra thì một Viện sĩ Vật lí nào đó có thể viết ra rất nhiều công trình kho ahọc, thậm chí còn có thể làm ra được một quả bom nguyên tử, nhưng chưa hẳn đã viết được một trang SGK ! Đó là chuyện bình thường và dễ hiểu giống như chuyện của anh bạn tôi, mọt nhà bình luận khá nổi tiếng về bóng đá nhưng không chắc đã sút được quả bóng vào khung thành bỏ trống. Tuy nhiên các nhà khoa học có thể góp phần rát lớn và công việc thẩm định SGK trước khi nó được trình làng.

Một cuốn SGK phải có tính khoa học và tính sư phạm, và do đó, người viết SGK đồng thời phải là một nhà khoa học và một nhà sư phạm. Đã từng có kinh nghiệm: một nhà khoa học hàng đầu và một nhà sư phạm tiếng tăm cùng phối hợp với nhau viết một cuốn sách. Kết quả thật bất ngờ : cuốn sách bị phê bình là vừa thiếu tính sư phạm, lại vừa thiếu tính khoa học !
Có người đề nghị tốt nhất là cứ dịch SGK của nước nào đó phù hợp với ta ra tiếng Việt cho học sinh ta học. Thế là đỡ tốn công, tốn tiền… Cũng giống như ta chưa làm được nhiều phim hay thì cứ lấy phim Hàn Quốc, Trung Quốc, Hồng Kông… ra mà chiếu cho dân xem thì đã làm sao ? Kể ra thì chẳng làm sao cả, ngoại trừ các cô gái của chúng ta bắt đầu tô môi đen sì như diễn viên nước Hàn, hoặc mặc áo hở rốn như người ta. Nếu nhà nước ta nghe theo ý kiến đó thì con em chúng ta cứ ở trong nước mà lại được học chương trình "ngoại" chứ cần gì phải tốn tiền du học ? Mà tốt nhất là cứ dịch SGK của nhiều nước, càng nhiều càng tốt (tiền dịch không đắt lắm) rồi ai muốn dạy theo sách nào thì dạy, học theo sách nào thì học…
Cố nhiên, ý kiến đó không thể chấp nhận. Ta cứ phải làm SGK cho con em ta học.
Viết SGK có dễ không ?
Vừa rồi có một nhà khoa học nước ta nói rằng cho ông ta ba tháng, ông ta có thể viết xong các cuốn SGK về các môn khoa học tự nhiên như Toán, Lí, Hoá của cấp THPT. Ông ta bảo rằng không có gì khó khăn rắc rối vì Toán học thì chỉ có định lí, Vật lí thì chỉ có định luật… Ai cũng thấy nhà khoa học ấy hoặc là chẳng hiểu gì về SGK, hoặc là một người thích nói đùa không đúng chỗ…Trước hết, SGK viết ra là để cho hàng nhiều triệu học sinh dùng, liên tiếp năm này sang năm khác, chứ không phải cuốn truyện để ai muốn mua thì mua, không mua thì thôi. Đây là một công việc đòi hỏi phải cẩn trọng đến từng chi tiết nhỏ nhặt nhất, càng ít sai sót càng tốt. Ngoài ra lại phải viết theo những khuôn khổ và quy định ngặt nghèo. Không được viết cô đọng quá, hàm súc quá như bài báo đầu tiên về “Thuyết tương đối” của Anh-xtanh, cũng không được dài dòng kiểu như “Chiến tranh và hoà bình” của Lép Tôn-xtôi.Sách tham khảo, hoặc sách chuyên đề thì muốn viết thế nào cũng được, miễn là đúng, chính xác. Anh có thể mở rộng phát triển theo hướng nào và phát triển đến đâu thì tùy khả năng và sự thích thú của anh, không ai cấm. Nhưng SGK thì không được phép viết như thế. Chương trình quy định vấn đề này phải được dạy ngần này tiết lí thuyết và ngần này tiết thực hành, không hơn không kém. Người viết phải lựa chọn sẽ trình bày những kiến thức gì, sâu nông ra sao, sắp xếp chúng như thế nào,… và đó là những chuyện không dễ dàng. Phải tra cứu sách vở, phải tham khảo ý kiến đồng nghiệp, nếu cần lại phải dạy thử xem học sinh tiếp thu như thế nào. Phải nhìn đằng sau (năm ngoái học sinh đã biết gì), nhìn đằng trước (sang năm học sinh còn được học gì), nhìn sang bên phải, bên trái (các môn học khác đã dạy cái gì), chứ không phải cứ đóng cửa lại mà viết. Ngôn ngữ SGK phải chính xác, rõ ràng và trong sáng. Không bay bướm và cũng không khô khan, không cứng nhắc, và cũng không ẩn dụ, không rườm rà và cũng không cô đọng…Bản thảo xong rồi lại phải qua bao nhiêu người đọc góp ý, nhà khoa học có, nhà sư phạm có, các thầy giáo đứng lớp có. Người ta khen chỗ này, chê chỗ kia…, và đều là những ý kiến có trách nhiệm, người viết không thể chủ quan và bảo thủ được. Lại phải đắn đo, sửa chữa, có khi phải viết lại nhiều trang hoặc toàn chương, thậm chí viết lại toàn bộ cuốn sách.Cuối cùng, sau khi đã được một Hội đồng thẩm định xét duyệt và thông qua, bản thảo mới được đưa vào in ấn. Giai đoạn từ đây đến khi cuốn sách được sản xuất hàng loạt, các tác giả còn phải vật lộn vất vả với các biên tập viên của nhà xuất bản, với “bông” một, “bông” hai… , với bản “can”, bản sửa…Nói tóm lại, viết SGK là một công việc vất vả, công phu, mất nhiều thì giờ, đó là chưa nói đến đôi khi còn… nguy hiểm (đối với các môn về Khoa học Xã hội và Nhân văn).Cuối cùng cũng cần nói rằng, những người được chọn viết SGK đều cảm thấy một vinh dự lớn lao, một trách nhiệm nặng nề, và đồng thời cũng biết rằng sẽ có một nhuận bút nhẹ tênh… Mặc dầu thế họ đều làm việc một cách tận tâm với lương tâm nghề nghiệp, và theo tôi thậm chí không có tiền nhuận bút họ cũng cứ làm.Vui buồn của tác giả SGKNiềm vui nỗi buồn của các tác giả SGK đều nằm ở sự đánh giá của người sử dụng sản phẩm của họ. Trước khi đến tay thầy giáo và học sinh, các bản thảo SGK phải qua sự thẩm định gắt gao không phải chỉ một mà nhiều lần. Khi đã được Hội đồng thẩm định thông qua, SGK được in thử để dạy thí điểm ở nhiều trường học ở nhiều vùng miền khác nhau. Qua thí điểm, đã có nhiều ý kiến đóng góp rất xây dựng và nghiêm túc, làm cho tác giả có sai thì phải sửa. Những ý kiến này thường là không được đăng trên báo dẫu là ý kiến khen hay chê, mặc dầu là những ý kiến rất xác đáng.Ngược lại, những ý kiến được đăng trên báo chí thì phần lớn lại không phải của các thầy giáo, mà là của những người ngoài ngành giáo dục, nói chung là phê phán rất gay gắt, tất nhiên cũng có ý kiến đúng, cũng có ý kiến sai. Người đọc nhiều khi rất hoang mang và có một nhận định nói chung không tốt đẹp gì về SGK.Đơn cử một ví dụ về cái chuyện dạy chữ A trước hay chữ E trước. Thật là buồn và buồn cười khi có đến hàng mấy chục bài báo lên án việc dạy chữ E trước, với nhiều tội danh : phá bỏ truyền thống, gây tư tưởng nổi loạn cho học sinh; làm cho học sinh lớp 1 suốt ngày ngô ngô ngọng ngọng; làm cho nền giáo dục của ta càng lạc hậu so với nước người vì người ta dạy chữ A trước. Ngay gần đây vẫn còn có bài nhắc đến chuyện đó, nói rằng trật tự a, b, c… của các chữ cái giống như bảng tuần hoàn của Men-đê-lê-ép nên không thể nào thay đổi được (?!).Có lần, một người quen biết gặp tôi để phản đối gay gắt một cuốn SGK toán cấp THCS. Ông ta nói “Anh xem, người ta viết ẩu như thế này có chết không : hình chữ nhật là một hình bình hành. Cứ để cho những người dốt nát như vậy viết SGK thì hèn gì mà học sinh ta không kém”. Tôi thật hoàn toàn bất ngờ, vì tôi tưởng ông ta không nỗi dốt đến như thế. Tôi đã giải thích cho ông biết rằng sách người ta viết như thế là đúng đấy, không sai đâu…, may mà ông đã hiểu ra. Giả sử ông ta gửi bài lên báo thì chắc chắn là có báo đăng và nhiều người không am hiểu sẽ cho là sách sai thật.Những chuyện như thế rất nhiều…, và đó là nỗi buồn lớn của tác giả SGK.
(nguồn Internet)

Đọc tiếp >>